Sau
khi đức Thế Tôn giác ngộ, ngài suy tư có nên ra thuyết pháp bây giờ hay chưa?
Vì Ngài nghĩ: Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu sắc, khó thấy, khó chứng,
tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn
quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần
chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục thật khó mà thấy được định lý Y
tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả các hành là tịch
tịnh, tất cả các sanh y được từ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt,
Niết-bàn. Nếu ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật
khổ não cho Ta!
Cho
nên đức Phật ngần ngại không muốn thuyết pháp. Phạm thiên Sahamepati đến ân cần
thỉnh cầu phật ba lần, xin Phật thuyết pháp với lời tha thiết rằng: Xin đức Thế
Tôn hãy thuyết pháp, mở rộng cửa bất tử cho chúng sanh được nghe Pháp. Đấng Đại
hùng hãy đứng lên, bậc chiến thắng chiến trưởng, Vị trưởng đoàn lữ khách, Đấng
thoát ly nợ nần, xin Thế Tôn hãy thuyếp pháp, có người nhờ nghe Pháp sẽ hiểu
diệu nghĩa và sẽ được an lạc.
Sau
lời thỉnh đó, đức Phật mới rời cội Bồ-đề đi đến vườn Nai để thuyết pháp cho 5
vị Tỳ-kheo là những người trước đó đã cùng đức Phật tu khổ hạnh trong 6 năm.
Tại đây Ngài thuyết giáo pháp Tứ Diệu đế đó là giáo lý đầu tiên và là lần
Chuyển pháp luân đầu tiên, mở đầu cho công cuộc giáo hóa độ sanh của Ngài tại
cõi Ta-bà này. Sau khi thuyết Tứ Diệu đế xong, đức Phật lần lượt đi các nơi
khác, tùy căn cơ của chúng sanh mà hóa độ.
Một
lần, sau giờ thọ trai xong, Ngài đang nghỉ ở bên cội cây bóng mát, có ba mươi
thanh niên hớt hãi chạy đến thưa hỏi Ngài, rằng Ngài có thấy người đàn bà đi
ngang qua đây không? Ngài hỏi lại: Các anh là ai? Người đàn bà đó thế nào? Các
anh hỏi bà ta làm gì? Các chàng thanh niên trả lời rằng: Chúng tôi là 30 nhạc
sĩ đem theo một kỹ nữ để giúp vui, không ngờ trong lúc chúng tôi đang ngủ say
thì người đàn bà ấy đã vơ vét hết bạc vàng, tài sản của chúng tôi trốn đi mất.
Chúng tôi đang đi tìm người ấy. Xin ngài có thấy thì chỉ giúp cho. Đức Phật hỏi
lại: Này các chàng trai, các anh đi tìm người đó hơn hay là các anh đi tìm
chính các anh hơn, điều nào hay hơn? Các chàng trai nhạc sư chưa hiểu hết ý
nghĩa của câu Ngài hỏi nên đồng thanh xin Phật giảng rõ hơn. Đức Phật nói:
Được, các anh về tịnh xá, Như Lai sẽ giảng cho các anh rõ. Cả ba người thanh
niên kéo nhau về tịnh xá nghe Phật giảng.
Về
tới tịnh xá, Phật biểu họ ngồi xung quanh tịnh xá và Ngài nói với họ rằng: Một
trong số các anh lấy cây đàn nguyệt biểu diễn một khúc cho Ta nghe coi. Vị ấy
vâng lời và cầm đàn nguyệt khảy một khúc rất hay. Vừa lúc ấy, Phật bảo: Thôi,
hãy đưa cây đàn cho Ta, và Ngài liền gãy một khúc rất thâm trầm, âm thanh tuyệt
diệu, gió như ngừng thổi để nghe, Thần trong hang động đều rời khỏi chỗ để ra
thưởng thức. Các vị nhạc sư lấy làm kinh ngạc. Khi Phật đàn xong họ đồng lên
tiếng thưa: Bạch Ngài, chúng con lâu nay tự coi mình là những tay thiện nghệ
nhất thế gian về kỹ xảo biểu diễn âm nhạc, nhưng so với Ngài thì tiếng đàn của
chúng con như con dã can so với tiếng rống của Sư tử. Nhân đó ngài nói: Các anh
tưởng các anh đã tự biết các anh, nhưng kỳ thật các anh chỉ biết các anh một
cách mơ hồ. Rồi các nhạc sư yên lặng lắng nghe lời Phật dạy về chuyện vua
Bát-ma-ca hy sinh thân mình để cứu an bá tánh trong nước Ngài. Và cuối cùng
Ngài khuyên: Các con hãy dùng trí tuệ của các con để cứu vớt quần sanh ra khỏi
chốn u đồ hơn là đi tìm một cô gái vô tích sự như vậy. Khi đó các nhạc sư đồng
xin xuất gia theo Phật, sau đó cả thầy trò cùng nhau trực chỉ đến
Ưu-lâu-tần-loa.
Một
lần nọ đức Phật ở giữa dân chúng Koliya, một số người đến đảnh lễ đức Phật,
bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn, chúng con là những người tại gia hưởng thọ đầy đủ
các dục, sống hệ phược với vợ con, mang chuỗi ngọc, tràng hoa, xoa son đánh
phấn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp cho những hạng người như chúng con. Ngài
thuyết thế nào mà pháp ấy sẽ đem lại cho chúng con hạnh phúc an lạc ngay trong
hiện tại và cũng đem lại hạnh phúc an lạc cho tương lai. Đức Phật dạy: Này các
gia chủ, có 4 điều đem lại hạnh phúc ngay trong hiện tại là: Điều thứ nhất là phải đầy đủ sự tháo vát.
Phàm làm một nghề gì để sinh sống; như làm ruộng, dạy học, đi buôn, làm bác
sĩ hay làm nhân viên nhà nước . . . thì phải chuyên cần, chăm chỉ, tìm
hiểu nghiên cứu sâu trong lãnh vực nghề nghiệp của mình đang theo đuổi để cho
được tinh xảo, để có thể tự mình làm và chỉ vẽ cho người khác làm. Điều thứ hai là đầy đủ sự phòng hộ.
Bằng sức mạnh, bằng mồ hôi nước mắt để thu nhập của cải một cách đúng pháp
thì phải cố gắng giữ gìn phòng hộ của cải đó đừng để vua quan tịch thu, trộm
cướp mang đi, lửa cháy thiêu hủy, nước cuốn trôi, gió thổi tan và phải dạy dỗ,
căn dặn những người con thừa tự chớ có dại dột, hoang đàng phá phách cướp đoạt.
Điều thứ ba là phải bảo vệ tài sản
mình kiếm được.Người con thừa kế luôn luôn là sự mong đợi của
dòng họ để trao truyền và giữ gìn gia sản của mình trong khi mình đang sống và
sau khi mình qua đời.
Nhưng
nếu người con thừa kế đó không được giáo dục, cha mẹ sanh ra thì có mà nuôi thì
không hoặc nuôi thì có mà dạy thì không, để đi theo bạn bè xấu ác tập nhiễm
những hành động phi pháp, tâm tính hoang đàn nghịch ngợm. Đối với cha mẹ chẳng
những đã không giữ gìn được tài sản để lại mà ngược lại còn hỗn hào xấc láo,
gây khổ cha mẹ nữa là khác. Muốn tài sản được người giữ gìn tất nhiên người làm
cha, làm mẹ phải có bổn phận giáo dục con cái mình ngay từ lúc tuổi còn đang
nhỏ. Giáo dục con cái bằng đủ cách như cho tiền con cái đúng pháp, dạy dỗ nó
bằng lẽ phải, bằng tình thương, bằng đạo đức. Phải để ý hướng dẫn con cái đi
đến những nơi hấp thụ được điều hay lẽ phải, đạo đức nhân nghĩa, không nên bỏ con
cái đi lêu lỏng, để cho con cái muốn làm gì thì làm. Nhiều Phật tử chúng ta chỉ
biết rằng: Đạo Phật là hay, đạo Phật là đúng, đạo Phật là sáng suốt rồi tự một
mình đi chùa lễ Phật, còn con cái tha hồ làm gì thì làm, đi đường nào thì đi.
Như thế thì con cái là những kẻ thừa tự, có hy vọng ở nơi nó bảo vệ được tài
sản của mình không? Điều thứ tư là phải gần gũi
với thiện. Ở
xóm này hay ở xóm kia, nếu ở đó có người hiền thiện, những người có lòng tin
chính đáng, có sự bố thí rộng rãi, có đức hạnh, có trí tuệ, thì ta nên gần gũi
họ để bàn bạc, học hỏi điều hay lẽ phải về đạo đức luân thường để mà sống theo.
Điều thứ năm là phải sống thăng bằng
điều hòa. Ngày này ta thu được bao nhiêu tiền, chi ra bao nhiêu
còn lại bao nhiêu. Rồi ngày khác ta thu được bao nhiêu, chi ra bao nhiêu, còn
lại bao nhiêu tiền. Nếu thu nhập ít ỏi mà tiêu phí hoang đàn vô bổ, thì người
đó sẽ bị thiên hạ chê cười, đó là những kẻ ăn của cải của mình mà không biết
phòng xa. Ngược lại nếu thu nhập khá nhưng lại bỏn xẻn, keo kiệt, hà tiện không
dám tiêu, không dám làm việc phải, thì người đó cũng sẽ bị thiên hạ chê cười,
kẻ đó là kẻ sẽ chết đói trên đống của cải.
Có
4 điều làm cho của cải tiêu tán và cũng chính 4 điều đó làm cho của cải được
duy trì và phát triển, đó là: Đam mê cờ bạc là diều thứ nhất, làm
cho của cải đội nón ra đi một cách khỏe khoắn. Đam mê rượu chè là điều thứ
hai. Đây là một cách đẩy của cải ra khỏi nhà. Đam mê sắc dục là điều thứ
ba. Đó là một cách không muốn giữ của cải trong gia đình nữa, và giao du
với bạn ác là điều thứ tư. Đây là cách mời giặc về nhà để mang của ra đi.
Bốn điều trên là những điều thông thường nhưng hết sức thâm thúy, những điều
thông thường nầy xảy ra hàng ngày nên không ai nghĩ tới, quá thông thường nên
không ai sống với. Cho nên khi giao du bạn ác mà không biết rằng mình giao du
bạn ác để người trong gia đình mình giao du bạn ác mà không biết rằng gia đình
mình đã có người giao du với bạn ác. Thế là mở cửa để cho của cải trong nhà đi
ra. Ngược lại nếu không đam mê cờ bạc, không đam mê rượu chè, không đam mê sắc
dục, không giao du bạn ác thì của cải ta làm được sẽ được bảo trì một cách vững
vàng không bị mất mát.
Tóm
lại, đức Phật dạy những điều vừa nói là những điều đem lại hạnh phúc an vui
ngay trong hiện tại. Các Phật tử chúng ta thực hành theo những lời dạy đó thử
coi, nó có được an vui hay không? Tôi đoan chắc rằng khi chúng ta thực hành
những lời dạy đó của đức Phật thì chúng ta sẽ được an vui.
Họ
lại hỏi tiếp: Những pháp nào đức Phật nói ra sẽ đem lại an vui hạnh phúc trong
tương lai nếu được áp dụng. Điều thứ
nhất là đầy đủ lòng tin. Chúng ta nghèo khổ bao giờ cũng ước ao
được giàu có, chúng ta sống trong một cái thân mạng ngắn ngủi thì bao giờ cũng
ước ao được sống lâu dài. Chúng ta thiếu từ bi ước ao được sống trong từ bi,
chúng ta dốt nát ao ước được trí tuệ sáng suốt. Chúng ta sống triền phược ước
ao được sống tự do giải thoát. Chính những ao ước đó dắt dẫn chúng ta bước lên,
đi tới cảnh giới rộng rãi, tự tại an vui. Nhưng muốn được như thế thì phải có
lòng tin. Có lòng tin đặt đúng chỗ gọi là chánh tín. Một người học trò muốn học
giỏi phải tin tưởng lời dạy của người thầy giáo, nếu không tin tưởng ở ông thầy
giáo và lời dạy của ông, thì người học trò đó không thể giỏi được. Một người
bệnh đến bác sĩ chữa bệnh, tin tưởng ở người thầy thuốc, tin tưởng thứ thuốc
bác sĩ cho có thể chữa lành bệnh, thì bệnh nhân mới có thể chữa mau lành bệnh
được. Cũng vậy, bây giờ chúng ta ao ước được Từ bi, chúng ta phải tin tưởng vào
Đấng có từ bi viên mãn đó là đức Phật. Chúng ta ao ước trí tuệ thì chúng ta
phải tin tưởng vào đức Phật là đấng sáng suốt và trí tuệ giác ngộ như danh từ
đã gọi.
Phật nghĩa là giác, có thêm chữ đại giác nữa gọi là sự giác ngộ lớn
lao. Giờ chúng ta đang bị vô minh, chúng ta ao ước, mơ ước được giác ngộ thì
chúng ta phải tin vào Đấng Giác ngộ thì ta mới giác ngộ được. Chúng ta đang
sống trong triền phược, bó buộc, bó buộc ở ngoại cảnh và bó buộc trong chính
nội tâm chúng ta. Chúng ta muốn được tự tại giải thoát thì phải tin tưởng vào
Đấng Tự tại giải thoát mới mau được tự tại giải thoát. Đấng tự tại giải thoát
đó là đức Phật.
Tin vào đức Phật một cách đúng đắn, tin vào lời dạy của đức
Phật một cách đúng đắn, tin vào các bậc chân Tăng xuất gia tu hành theo đạo
Phật một cách đúng đắn đó là ba niềm tin quí báu của người Phật tử chúng ta, là
những người đang mong mỏi bước lên con đường giác ngộ giải thoát và từ bi của
đức Phật. Thứ hai là đầy đủ giới đức:
Giới đức tức là những điều răn dạy, những điều luật để kềm chế thân của
chúng ta đừng làm bậy, miệng của chúng ta đừng nói bậy, tâm của chúng ta đừng
nghĩ bậy. Mỗi người chúng ta phải sửa cho được thân không làm bậy, miệng không
nói bậy, ý không nghĩ bậy, đó gọi là giới luật, là những điều răn dạy của Phật.
Những người sơ cơ tại gia Phật tử có 5 điều răn dạy mà đức Phật dạy cho người tại
gia cố gắng giữ gìn, thì tự nhiên có đức hạnh. Năm điều căn bản của giới tại
gia tạo nên đạo đức là:
1. Không sát sanh;
2. Không trộm cắp;
3. Không
tà hạnh trong các dục;
4. Không nói dối;
5. Không uống rượu.
Đó
là căn bản của đạo đức, của lẽ phải. Chúng ta thử hỏi, ta muốn sống, người khác
cũng muốn sống thì đừng vì ta mà giết hại kẻ khác Đó là một sự hợp tình thuận
lý. Nếu giữ được cái hợp tình hợp lý đó thì gọi là đạo đức, trái lại làm một
việc phi tình phi lý thì gọi là vô đạo đức. Không trộm cắp là biết tôn trọng
của cải của người khác trong xã hội, đó là một việc hợp tình hợp lý gọi là đạo
đức. Không tà dâm, giữ nhân cách, nhân phẩm cho đứng đắn vững vàng đó cũng là
đạo đức mà xã hội con người không thể thiếu được. Không nói dối cũng là một
cách giữ gìn đạo đức, nhưng điều này hơi khó. Các Phật tử lên chùa nghe các
thầy khuyên đừng nói dối, đó là lời khuyên hay và có lợi vô cùng, nhưng đến khi
ra giữa chợ đời thì chịu. Một thước vải chị bên này bán 10 ngàn, chị nọ 12
ngàn, chị kia 15 ngàn, chị khác 11 ngàn. Trong khi đó thước vải xuất xưởng đúng
giá chỉ có 9 ngàn thôi. Nếu mình nói thước vải này 10 ngàn thì người ta cho là
vải xấu. Nói thách 15 ngàn đó là vải ngoại họ cho là vải tốt. Còn 11 ngàn thì
cho là vải nội hóa không ra gì, không thèm mua. Cho nên thật khó nói. Như vậy
mình là Phật tử, nói thật thà thì không nên đi buôn và cũng đừng nên làm chuyện
gì hết, bởi trong giới nào cũng có sự nói láo cả, không nhiều thì ít, nhất là
trong sự buôn bán nói láo nhiều hơn ai hết. Vậy làm sao vừa giữ giới được vừa
buôn bán được? Nếu là người năng đi buôn, các vị tìm cho một cách vừa giữ giới
được vừa buôn có lời! Các vị có làm được không ?
Tôi
đã nghĩ ra cách này không biết các Phật tử có chịu không? Trong thước vải đó,
người bên này nói 12 ngàn thì mình cũng nói 12 ngàn. Đúng ra là nói láo rồi đó,
láo 3 ngàn so với 9 ngàn là giá chính thức. Nếu gặp một người từ quê ra, cực
khổ, lâu nay gom góp được 12 ngàn đồng, lên chợ mua tưởng vải chưa trượt giá,
họ tính nếu mua một thước 6 ngàn, hai thước 12 ngàn thì may được 1 cái áo. Chừ
nó trượt giá 12 ngàn một thước, nhưng họ cũng đành nhắm mắt mua. Chị bán hàng
bên này không đi chùa, chị không giữ giới bất vọng ngữ, nên chị nói 12 ngàn,
chị từ quê ra đồng ý mua và trả tiền lấy vải về. Khi mua được vải đó đem về tốt
xấu chị ta không thèm để ý. Còn mình là Phật tử nói 12 ngàn và chị ta cũng đưa
12 ngàn nhưng mình nói nhỏ với chị ta, tuy nói là nói vậy, nhưng tôi bớt cho
chị 2 ngàn lấy 10 ngàn thôi. Thế là mình cũng nói láo, bán được có lời, nhưng
nói láo đó là nói láo phương tiện, không mắc tội, không phạm giới. Đó là tôi đề
nghị như vậy để các vị tham khảo vì tôi không đi buôn, nếu còn giải pháp nào
hay hơn thì các Phật tử tìm cách suy nghĩ thêm, miễn sao buôn bán có lời mà
không mắc tội nói láo là được.
Nói
đến giới bất vọng ngữ này thì căn bản của nó là nền tảng của đạo đức. Trong
chúng ta nếu ai cũng cố gắng giữ đừng nói láo, hay có nói láo thì nói ít ít
thôi, 10 nói ra 11 chứ đừng nói ra 20. Như vậy chợ nó bớt ồn, thì giờ bớt mất,
đồ đạc của cải bán ra cũng rất mau. Còn nói láo thách nhau nhiều quá nhất định
chợ sẽ ồn, bán rất chậm, vì sao? Vì một thước vải 9 ngàn mà nói 20 ngàn nhất
định họ phải trả giá thôi. Trả tới trả lui, trả lên trả xuống... một giờ mà chưa mua được
một thước vải nào và người bán cũng không bán được một thước vải nào. Đó là hậu
quả của sự nói láo quá mức, đã mất thì giờ cho mình mà lại còn mất thì giờ cho
người mua, thậm chí đôi khi xảy ra xích mích, cãi lộn rồi đánh nhau nữa. Xã hội
nào nói láo nhiều thì xã hội đó sẽ bất an. Nếu nói láo ít thì đó là một xã hội
an lạc.
Tôi
thấy vì nói thách quá nhiều nên có người đi cả buổi chợ rồi quay trở về chứ
không mua được gì hết. Ở nhà nghe nói một thước vải 5 ngàn, lên chợ hỏi chỗ này
7 ngàn, chỗ kia 9 ngàn, thậm chí 11, 15 ngàn nên không mua được vải mà lại mất
toi một ngày. Bên kia cũng không bán được, bên này cũng không mua được. Cho nên
giới không nói láo tưởng đơn sơ nhưng đó là căn bản của an lạc, trật tự của xã
hội. Nếu một xã hội mà người nói láo nhiều thì đâm ra mất trật tự và nguy hiểm
vô cùng. Tôi ví dụ, chúng ta tới mua vé xe, nếu họ bán thật giá thì khách sẽ
mua và lên xe đi ngay, còn nói thách thì khách sẽ đắn đo, so sánh nên chưa vội
mua ngay. Đáng ra vé xe đi 5 ngàn, bây giờ họ nói 10 ngàn nên khách phải trả
giá, vô tình họ làm mất thì giờ cho khách mà xe cũng không thể chạy được. Như
vậy là bên này kẻ mất buôn, bên kia kẻ mất bán, xã hội vì vậy mất trật tự nên
không có đạo đức. Cho nên Phật chế giới cấm nói láo là rất hay, nếu chúng ta
suy nghiệm kỹ thì lời dạy của đức Phật thâm thúy vô cùng, nếu đem áp dụng được
giới không nói láo vào trong đời sống thì sẽ đem lại sự an lạc cho xã hội ngay
tức thời.
Không uống rượu là
điều thứ năm: ở giữa xã
hội kinh tế thị trường này, là một người Phật tử lên chùa mà không uống rượu,
tôi nghĩ các Phật tử chẳng qua khi nghe lời các thầy khuyên không nên uống rượu
thì dạ dạ cho qua chuyện mà thôi, chứ ở ngoài đời nói không uống rượu thì khó
quá. Xã hội ta bây giờ ở đâu đông người là ở đó có uống rượu. Ngồi hai người họ
cũng uống. Bình thường không có người họ cũng bày ra độc ẩm. Quán nào cũng có
rượu cả. Nếu Phật tử khi lên chùa các thầy khuyên đừng uống rượu thì e cũng có
người nói: Thôi thôi các thầy ơi, các thầy cho tôi quá 70 tuổi rồi tôi sẽ nghỉ
uống, chứ bây giờ còn trẻ nghỉ uống sao được, tu cái giới này chưa được, khó
quá? Thực tình ra đức Phật dạy những giới điều như vậy, Ngài nói chu đáo nhưng
sự thực hành bao giờ cũng từ từ, chứ không phải khuyên các Phật tử không giữ.
Tôi ví dụ: Nếu hôm trước chúng ta uống 10 lít một ngày thì bây giờ thọ giới rồi
uống 9 lít thôi. Hoặc tháng sau hay tháng sau nữa lên chùa lạy Phật, xin Ngài
cho con bữa nay uống 8 lít thôi. Tháng sau tháng sau nữa lên lạy Phật nói, thưa
Ngài bữa nay cho con uống 7 lít thôi, cứ như thế từ từ mà bỏ. Chính đó là thọ
giới không uống rượu, chứ không phải lên thọ rồi là bỏ liền, nên các đạo hữu
đừng sợ. Như thế thì ai đang uống rượu đó cũng có thể xin thọ ngũ giới được chứ
không phải nói tôi đang uống tôi thọ không được. Nhưng vị ấy phải có quyết tâm
bỏ từ từ, như tháng này tôi bỏ một ly, tháng sau tôi bớt một ly, cứ như thế từ
từ mà bỏ dần, đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là khi đã thọ giới không uống
ruợu thì không được đem rượu mời nài ép người khác uống. Có nhiều khách tới nhà
liền đem ruợu tới nài ép: Mời anh uống với tôi một chén cho vui. Người kia nói:
Không, tôi thọ giới rồi tôi không uống rượu. Người kia nài nỉ: Thôi anh à, hôm
nay anh xả giới một bữa, anh cụng với tôi một ly cho vui. Như thế là mình không
biết giữ cho mình mà cũng không biết giữ cho người khác. Như vậy là giữ giới
bất ẩm tửu không trọn vẹn. Nên khi giữ thì phải giữ cho mình và cũng giữ cho
người khác nữa, chứ mình không uống mà cứ ép người khác uống một chén cho vui,
vì mấy khi anh đến nhà tôi. Ép người ta như vậy thì mai mốt làm sao ta lên chùa
để thọ giới không uống ruợu được, vô tình mình chận con đường hành đạo của mình
và còn chận con đường tu đạo của người khác mà không biết. Cho nên việc chế
giới của Phật thâm thúy vô cùng, mình phải tìm hiểu và thực hành thì bản thân
mình mới được thanh thản an vui. Nếu không ý thức được như vậy, thì việc uống
rượu tràn lan trong xã hội như hôm nay là một tai hại rất lớn. Có biết bao
người chết vì rượu và cũng có biết bao gia đình tan nhà nát cửa cũng vì rượu.
Một
lần, có một Phật tử chở tôi bằng xe Honda, tôi ngồi sau hỏi: Sao Bác, mấy hôm
rày ăn làm ra sao? Anh ta trả lời: Thưa thầy, dạ kinh tế con không lo nhưng khổ
quá. Tôi hỏi Bác khổ chuyện gì vậy? Thưa thầy, nhà tôi mấy đứa con nó say sưa
cả ngày, đánh lộn cãi vã nhau hoài, xử mãi xử hoài, xử một chặp tôi mệt quá, lần
sau nghe la lối to tiếng là tôi phải bỏ đi chỗ khác, qua nhà hàng xóm ngồi. Như
vậy là nhà mình giao cho con uống rượu phá phách, còn mình qua nhà hàng xóm
ngồi. Vậy là tại ai mà xảy ra chuyện bất hạnh như vậy? Tại mình không giáo dục
con cái mình chứ không phải khổ vì ngoại cảnh bên ngoài đem lại. Cho nên chúng
ta phải ý thức cho được lời đức Phật dạy không uống rượu là một điều rất hay,
rất là đạo đức.
Ở
ngoài xã hội, chúng ta cho chuyện đó là chuyện thông thường, không quan trọng,
nhưng nhìn ra ngoài xã hội, nhìn lại trong gia đình của mình chúng ta sẽ thấy
đó là một điều hết sức hợp lý và rất hay. Nếu giữ được thì sẽ đem lại sự hạnh
phúc cho gia đình và xã hội.
Điều thứ 3 là đầy
đủ sự bố thí. Thường
thường khi nghe nói bố thí chúng ta hay quan niệm rằng: Có của mới bố thí chứ
tôi nghèo xơ nghèo xác thì làm sao mà bố thí được. Ngày chỉ cần đủ được hai ba
bữa ăn là tốt lắm rồi chứ lấy đâu ra của mà bố thí. Như vậy là cái bụng chưa no
làm sao mà bố được. Khi nào no mới bố chứ, chứ giờ đây chưa no mà biểu bố cho
ai được. Thế chắc Phật dạy bố thí là dạy cho mấy ông nhà giàu, còn hạng nghèo
khổ, hạng đi xin ăn bố sao được Có nhiều người nghĩ vậy nên cho Phật chỉ chú
trọng mấy ông nhà giàu, chứ không chú trọng mấy người nghèo khổ. Chứ nhà nghèo
quá không đủ ăn lấy đâu mà bố với thí.
Thật
ra bố thí là một cách mở rộng lòng mình, chan hòa sự sống của mình với người
khác. Khi đã biết thu vào thì cũng phải biết thí ra. Hằng ngày chúng ta thở vào
và thở ra để mà sống. Nếu chúng ta tham lam hơi thở, hít vào thật nhiều không
tống nó ra, có được không? Chắn chắn là không được, chết ngay. Có cho ra rồi mới hít vào được, có hít vào
rồi mới cho ra được. Từ đó suy ra, của cải cất cho nhiều để làm gì? Của cải để
nuôi sống, không khí để làm gì? cũng để nuôi sống. Vậy khi hít không khí vào
cũng chỉ vừa đủ để nuôi sống mà thôi, nếu dư quá sẽ ngập tràn phổi cũng chết.
Của cải nếu giữ mãi mà không đưa ra, lâu ngày nó không chết cách này thì cũng
chết cách khác.
Sau
giải phóng có một ông đạo hữu, tôi chắc ông này là đạo hữu nhưng cũng ít đi
chùa, không bao giờ bố thí và không nghe Phật dạy cái luật vô thường, đến với
tôi ông nói: Ôi chao thầy ơi ? Thầy có cách chi thầy vẽ cho tôi sống với, chứ
tôi hoảng quá thầy ạ! Tôi hỏi: sao mà hoảng quá rứa bác? Ông nói: Thưa thầy,
nhà cửa con họ lấy hết trơn. Tôi hỏi: họ lấy mấy cái? Dạ, họ lấy 9,10 cái lận.
Tôi tiếp tục hỏi: Có còn cái nào không ? Dạ, còn một cái. Còn nhà gì bác? Dạ,
nhà lầu. Vậy giờ bác ở với ai ? Dạ, hai vợ chồng già thôi. Tôi nói: Ôi chao,
sao bác không chịu ngó xuống mà ở. Hai vợ chồng già rồi ở một cái nhà lầu mà
bác nói hoảng. Một mai kia bác không có gạo ăn, bác bán cái nhà ấy rồi mua một
cái nhà nhỏ nhỏ, hai vợ chồng ở với nhau, tôi nghĩ bác sống đến 120 tuổi cũng
tiêu chưa hết tiền! Khi đó bác ta kêu lên: à, à.
Thường
thường chúng ta mê lầm lắm. Trong khi mình sướng mà không biết mình sướng, cứ
nói mình khổ. Còn cái nhà lầu 3 tầng so với nhiều người còn ở nhà tranh, thậm
chí có nhiều người không có nhà, ở bụi ở bờ thì mình sướng biết mấy mà không
biết mình sướng. Cho nên khi ta biết sướng thì tự nhiên ta sướng, nếu không
biết sướng thì tự nhiên ta khổ. Khổ đó phần lớn do mình đem tới chứ không do ai
đem lại cả.
Đức
Phật có một lần, Ngài ngồi yên tịnh bên gốc cây. Có người đi ngang qua hỏi:
Ngài có hoan hỷ không Ngài? Ngài nói: Ta được gì mà Ta hoan hỷ. Ngài không hoan
hỷ chắc là sầu muộn hay sao mà ngồi một mình như vậy? Ngài nói: Ta mất chi mà
Ta sầu muộn. Ông ta nói: Lạ chưa, không hoan hỷ thì sầu muộn, không sầu muộn
thì hoan hỷ, chứ sao đây hoan hỷ cũng không mà sầu muộn cũng không? Đời không
có ai có chuyện lạ như vậy bao giờ. Ngài mới nói: Sầu muộn chỉ đến với người có
tâm hoan hỷ, hoan hỷ chỉ đến với người có tâm sầu muộn. (Bây giờ đang đói bụng
quá, sầu hết sức; có ai đem cho một ổ bánh mì ăn thì hoan hỷ. Thế là từ trạng
thái sầu muộn mà sinh ra hoan hỷ. Hôm nay có một lượng vàng bỏ trong túi, đi rá
đường nó rớt mất. Vì có vàng là hoan hỷ lắm mà giờ nó rớt mất là sầu muộn). Như
Lai là người đã dứt hết sầu muộn rồi thì lấy đâu mà hoan hỷ. Hoan hỷ chỉ đến với
tâm người sầu muộn, mà đức Phật không còn sầu muộn, cho nên Ngài không sầu muộn
cũng không hoan hỷ. Nhưng chính không sầu muộn không hoan hỷ đó là một cái hoan
hỷ vượt lên trên mọi hoan hỷ và sầu muộn tầm thường đối đãi của thế gian, đó là
một cái hoan hỷ, giải thoát tự tại, cho nên đức Phật khi nào miệng Ngài cũng
mỉm cười luôn. Cười to như ngài Di-lặc hay cười mỉm như đức Thích-ca cũng là nụ
cười bao giờ cũng hoan hỷ.
Khi
nào các Phật tử lên chùa hỏi đức Di-lặc, Ngài có được cái gì không mà Ngài cười
luôn như vậy? Ngài có trúng số độc đắc không mà Ngài cười hoan hỷ như vậy? Rồi
đến vỗ vỗ nơi chân đức Thích-ca hỏi Ngài có được gì không mà Ngài mỉm cười như
vậy. Nếu lên hỏi mà đức Di-lặc nói: Ta không được gì cả mà Ta vẫn vui; hay đức
Thích-ca cũng không được gì cả mà Ngài vẫn cười, vẫn hoan hỷ. Mình cũng bắt
chước theo các Ngài rằng: Dù chúng ta không được gì cả thì chúng ta vẫn cứ vui
vẻ. Lẽ tất nhiên, cái vui của Phật không phải như cái vui của mình. Mình cười
ha hả là trước mắt có cái vui cho chính mình. Tuy nhiên, cái vui cái cười của
mình hiện ra rồi biến mất khiến mình lại buồn liền. Bởi vì mình đang còn ở
trong cảnh vui vui buồn buồn của thế gian. Cái vui cái buồn của mình không phải
tự chính trong mình có, mà nó tùy thuộc vào cái vật bên ngoài. Bây giờ nếu ai
đem tới cho chúng ta một thỏi vàng mà còn ca ngợi chúng ta nữa, rứa là chúng ta
vui, nhưng nếu chúng ta để mất thỏi vàng thì buồn liền. Như vậy là dựa theo
thỏi vàng đó mà vui mà buồn, chứ trong tâm này không có. Đó là cái vui buồn
theo ngoại cảnh.
Đức
Phật không vui buồn theo thỏi vàng đó cho nên khi nào Ngài cũng mỉm cười, cũng
vui hết. Ngài biết cái buồn vui theo thỏi vàng đó là cái buồn vui giả tạo, một
cái buồn vui không bền vững, cho nên Ngài đã bỏ quốc thành thê tử để đi tu, hầu
chứng ngộ một cảnh giới không buồn không vui gì cả, đó là Niết-bàn, nên dù cho
ngồi dưới gốc cây Ngài cũng vui.
Sự
bố thí mà đức Phật dạy rất thiết thực và thâm thúy lắm. Nếu tất cả chúng ta,
hằng ngày có một ý nghĩ bố thí thôi, chứ chưa phải bố thí cho ai hết thì cũng
đã có lợi rồi. Khi tâm của chúng ta nghĩ đến bố thí: Ví dụ ta nghĩ ước gì có
một đồng bạc để bố thí cho người nghèo, thì khi ấy chúng ta sẽ không móng tâm
ăn cắp ăn trộm nữa. Cho nên chỉ một việc suy nghĩ đến bố thí cũng đã có lợi
rồi, chứ chưa nói đến việc đem tiền đem bạc đi bố thí. Khi tâm đã nghĩ đến bố
thí thì sẽ không có tâm nào nghĩ đến ăn trộm ăn cắp nữa, như thế đã là có lợi
và vui rồi. Nếu không bố thí thì tâm bỏn sẻn sẽ làm cho mình mù quáng, không
biết đâu là phải đâu là trái, đâu là hay đâu là dở. Khi ấy cái gì có lợi thì ta
cho là đúng, không lợi thì cho là sai.
Có
một bà già, bà này chuyên sống với tiền với bạc; nên ngày nào có tiền có bạc
đem đến thì bà vui, ngày nào không có tiền đến thì bà buồn. Khi nào mở tủ ra mà
thấy bạc chất từng chồng cao thì bà vui, còn chồng bạc lưng lưng thì bà buồn
lắm. Suốt ngày chỉ nghĩ đến tiền, nên bà tìm đủ mọi cách để thu càng nhiều tiền
càng tốt, vì vậy bà đã tìm đủ mọi mưu mô thủ đoạn, để vơ vét tiền bạc về cho
mình và không từ một thủ đoạn nào. Vì thế, nếu có ai tới nói có lợi cho bà thì
bà đãi cơm mời nước rất ân cần, còn người nào tới quyên tiền như nói: Bữa nay
trên chùa có lễ, chị nên cúng cái này cái kia để làm phước, thì bà liền quay
lưng từ chối lia lịa. Không cho mà lại ác cảm nữa.
Bên
cạnh nhà bà có ông hiền sĩ, thấy tâm bà ác quá nên anh ta tìm cách thức tỉnh
bà. Bữa nọ, anh ta qua nhà bà mượn một cái nồi nấu cơm. Anh nói, bà ơi mấy lúc
này tôi ở một mình nên nấu cái nồi một là đủ ăn, bữa nay có bạn bè tới thăm,
nên bà cho tôi mượn cái nồi rưỡi về nấu vài hôm. Năn nỉ đủ cách bà mới cho mượn
và còn nói: Cả đời tôi chưa cho ai mượn hết, bữa nay nể anh nên cho anh mượn,
nhưng sáng mai phải đem trả sớm cho tôi. Sáng mai anh ta đem trả nồi ruỡi và
trong còn có một cái nồi con nữa.
Thấy
vậy bà hỏi : Cái nồi con này đâu đây? Anh ta nói: Hồi hôm tôi rửa cái nồi rưỡi
định sáng mai đem trả cho bà, không ngờ ban đêm nó đẻ ra cái nồi một này. Nghe
nói vậy bà ta khoái trá nói: Phải, nồi tôi là nồi đặc biệt, bữa sau có mượn qua
đây tôi cho mượn, với lại nếu anh mượn nồi gì tôi cũng cho anh mượn hết. Bà dặn
dò như vậy mấy lần nhưng lâu rồi không thấy anh ta qua mượn. Lâu lâu bà lại cho
người qua nhắc, sao không thấy anh qua mượn nồi. Bà nhắc mãi nhắc hoài, bữa đó
anh ta qua mượn. Anh xin mượn nồi rưỡi, bà nói không có, chỉ cho mượn nồi lớn
thôi chứ nồi rưỡi tôi bận rồi.
Một
hồi lời qua tiếng lại, cuối cùng anh nói: Thôi bà cho mượn cái nồi gì cũng
được. Bà đưa nồi lớn, anh nói: Nồi này to quá làm gì hết. Anh năn nỉ bà cho
mượn nồi nhỏ thôi. Bà nói, thôi cho mượn nồi ba cũng được. Khi đó bà nghĩ thầm
trong bụng: Nồi ruỡi đẻ ra nồi một thì bây giờ nồi ba nó sẽ đẻ ra nồi em nồi
một. Bà vội vàng lấy nồi cho anh ta mượn. Anh ta mang nồi về. Khi đi ngang qua
con sông cạnh nhà anh ta, anh liền vứt nồi xuống sông rồi về nhà nằm ngủ. Bà ở
bên nhà cứ thấp thỏm sao đêm nay trời lâu sáng quá, canh một, canh hai, canh ba
gà đã gáy nhưng trời vẫn chưa sáng. Bà trông cho mau sáng để anh ta qua trả
nồi. Hy vọng anh đem trả nồi ba thế nào cũng có cái nồi nhỏ ở trong đó.
Nhưng
một ngày trôi qua vẫn không thấy anh ta đem trả. Ngày hôm sau mặt trời vừa lên
quá đọt cau mà vẫn chưa thấy anh ta trả nồi, bà nóng lòng nên chạy qua nhà thì
thấy anh ta đang vách râu nằm ngủ. Bà tới đập anh ta thì anh ta lăn qua lăn lại
mà không thấy dậy. Bà lấy que đập đập vào người khi ấy anh ta mới dụi mắt thức
đậy. Bà mắng anh ta và nói: Sao sáng nay không thấy anh đem nồi qua trả? Anh
trả lời: Ôi chán quá bà ơi! Bà hỏi anh chán cái gì? Anh nói: Cái nồi bà hắn
chết rồi. Bà nói: Anh nói hiện ngụy, có bao giờ nghe nồi chết đâu mà sao hôm
nay anh nói lạ thế! Anh buồn rầu nói và khóc: Cái nồi nó chết nên tôi đem chôn
hồi hôm rồi. Bà la lớn: Anh đừng nói hiện ngụy. Nồi mà nồi chết, xưa nay chưa
nghe ai nói chuyện đó! Anh nói: Bà không biết sao, xưa nay đã có sanh thì có
chết chứ sao. Bà dậm chân dậm cẳng la lối, nồi của tôi đâu rồi đem về cho tôi,
còn không tôi sẽ đi kiện quan. Anh nói: Bà có đi kiện đâu thì kiện chứ hắn chết
tôi cũng chịu thôi.
Bà
chạy về nằm gác tay lên trán suy nghĩ nếu muốn đi kiện quan thì biết viết đơn
làm sao để đi kiện. Dù cho ông tiến sĩ cử nhân gì đi nữa làm sao viết được cái
đơn này mà đi kiện. Thua buồn thua kiện nên bà về nhà nằm nghĩ. Nghĩ một hồi
tinh thần hơi ổn định và nhớ lại: Khi kia mình nồi ba cũng có, chừ lại không!
Nồi rưỡi cũng có giờ lại không? Tự ai gây ra cớ sự như thế này? Vua cũng không
lấy, giặc cũng không cướp mà sao ta lại mất nồi? Tính đi tính lại té ra mình
quá tham. Tham quá hóa thành u mê.
Câu
chuyện nghe kể có vẻ ngớ ngẩn, bây giờ một em bé 15 tuổi cũng không tin cái nồi
sanh nồi chết. Nhưng bà con chúng ta không tin cái nồi sanh nhưng lại tin cục
vàng nó đẻ. Một cây nó có thể sanh ra bốn cây hay bảy cây một lần. Báo chí có
nêu đây đó tỉnh này tỉnh kia, nạn chơi và bể hụi làm cho bao gia đình tan nhà
nát cửa. Tôi có một người quen hiện bây giờ vợ bỏ chạy trốn vì sợ chủ nợ tới
đòi, nên chồng phải treo bảng bán nhà, vì sao? Đó là vì nạn chơi hụi. Vàng
không đẻ một ra ba cây mà cứ ép nó đẻ cho nên khổ. Nồi không đẻ mà cứ ép cho nó
đẻ nên sinh ra khổ. Nếu có cái tâm bố thí, không bỏn sẻn, không tham lam thì
đâu đến nỗi như thế.
Đức
Phật dạy: Tham, sân, si là ba căn bệnh gây đau khổ cho chúng sinh. Làm sao bớt
tham, bớt sân, bớt si thì mới có an lạc. Có ba cách bố thí để đem lại an lạc:
Đó là bố thí tài vật, là cúng của, cúng tiền giúp áo giúp cơm. Ví dụ thấy bên
nhà hàng xóm có một em bé học hành giỏi, tánh nết dễ thương nhưng nhà không đủ
tiền nuôi con cho đi học thì mình tìm cách giúp cho em đó đi học. Đó là cách bố
thí thiết thực nhất.
Xưa
có một người ăn xin thấy đức Phật đi ngang qua, trong lòng ưng bố thí quá nhưng
không biết lấy gì mà bố thí, đi xin còn không đủ ăn lấy đâu mà bố thí. Người ấy
chạy tới nói: Bạch Phật, con muốn cúng cho Ngài nhưng cực quá không làm sao mà
cúng cho Ngài được. Đức Phật đưa bình bát của Ngài cho người đó và nói: Ngươi
đến nơi giếng múc cho ta một bát nước. Khi múc nước đem tới dâng Ngài, Ngài
nói: Ngươi đã bố thí cho ta rồi đó.
Hiểu
cái nghĩa bố thí rộng rãi như vậy thì bất cứ giờ nào chúng ta cũng bố thí được
hết. Đi ra đường gặp một người đẩy xe nặng ta đến đẩy phụ cho họ một chút cũng
là bố thí, vì mình đã đem cái sức của mình giúp cho họ. Một người nằm bệnh viện
cần ít máu, mình đến cho họ vài mili máu cũng là cách bố thí. Đó là bố thí nội tài. Thứ hai
là bố thí pháp: Tức là
bố thí điều hay lẽ phải, an ủi người đang khi sầu khổ. Học hỏi giáo lý của đức
Phật để đem những lời dạy đó mà truyền trao lại cho người khác, mở mang khai
sáng tâm trí cho họ cũng là một cách bố thí. Góp tiền in kinh ấn tống cúng
dường để phổ biến giáo lý của đức Phật cũng là bố thí. Đó là bố thí tài vật.
Hoặc giả tối hôm nay ở đây có giảng, có thuyết pháp, mình rủ bạn bè đi nghe để
cho họ hiểu giáo lý của đức Phật, đó cũng là một cách bố thí. Đây là bố thí
pháp. Ông thầy giảng là bố thí đã đành, người đi nghe và rủ người khác cùng đi
nghe cũng là bố thí pháp. Mình đi nghe pháp và rủ bạn cùng đi nghe tức là mình
đã góp phần bố thí pháp cho họ. Hiểu bố thí như vậy thì bất cứ lúc nào ta cũng
bố thí được cả . Không bố thí tài thì bố thí pháp, miễn rằng ta có tâm
thì ta bố thí được.
Thứ
ba là vô úy thí: Là bố
thí sự không sợ. Có nhiều người bình thường thì hiền lắm, nhưng khi nói với ai
thì ưa trợn mắt phồng mang nguýt nguýt làm cho người ta khiếp vía, cốt để dọa
cho những kẻ yếu bóng vía. Thế là họ đã bố thí cái sợ chứ không phải bố thí cái
không sợ.
Thế
thì Phật tử chúng ta phải chú ý bao giờ miệng cũng nói ôn hòa từ tốn, thân mật
chứ không nên nói áp đảo làm cho người đối diện khó chịu. Đó cũng là cách bố
thí không sợ sệt. Giữ giới không trộm cắp cũng là cách bố thí không sợ sệt. Đi
tàu xe, nếu ngồi gần một người mà trước nay nghe báo đài nói anh ta là người ăn
cắp có tiếng thì mình ngồi bên cũng sợ lắm. Thành vô tình anh ta bố thí cho
mình cái sợ nên không dám ngủ, không dám đi đâu hết. Ngược lại nếu lên trên tàu
ngồi bên một người Phật tử, họ là người có tu, rộng rãi, không bao giờ bớt xén
của ai, có ai khó khăn thì liền giúp đỡ nên lòng rất an tâm, không sợ sệt gì
cả, đi đâu cũng không sợ. Như vậy là người Phật tử đó đã bố thí cho mình cái
không sợ. Sự không sợ đó thì ai bố thí cũng được hết chứ không phải chỉ có Phật
mới bố thí sự không sợ đó mà thôi. Cho nên người ta sợ và không sợ cũng tự nơi
mình. Bố thí tài, bố thí pháp và bố thí không sợ là thế.
Điều
thứ 4 là đầy đủ trí tuệ: Phật
là giác ngộ, ngược lại chúng sinh là vô minh. Vô minh là đau khổ. Đau khổ vì
cái Ta, cái Tôi của chúng ta lớn quá, mong rằng bất cứ ai đừng đụng tới nó. Anh
có nói với tôi thì nói tử tế, ca ngợi tôi thì được nhưng chê tôi và nói xấu tôi
là không được. Cái tôi của tôi lớn lắm. Cái tôi lớn như vậy nhưng hỏi cái tôi ở
đâu thì chỉ không ra, đến nỗi một gốc cây đến khi thành tôi rồi là quan trọng
lắm.
Khi
cha mẹ mình đẻ ra thì đẻ cục thịt ra trước, nó không có tên có tuổi gì cả. Rồi
sau mới đặt cho một cái tên rất đẹp như Thúy Nga, Ngọc Bích, Lan Hương, Thu Ba ...
tên nào tên nấy nghe dậy trời, kêu lên ai cũng tưởng người đó là đẹp như
tiên, nhưng thực tế chưa chắc đã đẹp. Rồi cũng có khi cha mẹ vô tình đặt cho
con một cái tên rất xấu. Thỉnh thoảng chúng ta thấy trên báo chí, có một số
người được cha mẹ đặt cho cái tên cũng xấu lắm. Khi đặt tên đó rồi thì nó gắn
chặt cả đời mình vào cái tên đó. Ví dụ: Cha mẹ đặt cho mình tên Kèo. Mới đầu ai
kêu Kèo mình cũng không để ý, nhưng sau kêu mãi rồi mình tự nhận Kèo là mình,
nùnh là Kèo. Một chặp nó đồng hóa hai thành một. Khi đã đồng hóa rồi thì đi đâu
nó cũng gắn chặt với mình. Nếu lo một mai đi ngang qua xóm đó họ mất xe đạp, họ
kêu tên Kèo ra chưởi trong khi mình định đi xa. Nhưng đè tên Kèo nó chưởi đúng
như tên mình, khi đó mình đứng cự lại ngay. À, mụ kia, ai ăn cắp xe đạp của mụ
mà mụ kêu tên tôi ra chưởi. Hai bên cãi qua cãi lại, cãi sáng chưa xong lại để
chiều cãi, chiều cãi chưa xong mai lại cãi tiếp, nên chuyến đi xa đành bỏ dở,
ăn cũng không mà uống cũng không.
Vậy
có ai trói anh ta đâu mà cứ đứng mãi đó, cũng không ai giam anh ta mà anh ta
vẫn cứ đợi mãi. Giả sử khi đó mấy ông công an có mặt chắc họ cũng không dại gì
sờ tới. Cứ đứng đó chưởi chưa đã, còn về kéo bà con tới chưởi nữa. Nếu lỡ chưởi
chưa xong mà hấp hối thì dặn con cái nhớ chưởi tiếp. Chưởi cho hết sức cũng vì
cái tên Kèo. Thế thì tên Kèo khi cha mẹ sinh ra có hay không? Chắc là không có.
Đã không mà chấp chặt lấy làm của mình. Vì chấp chặt tên Kèo là mình nên khi ai
đụng tới cũng không được. Hễ ai chưởi thì phồng mang trợn mắt lên liền. Nhưng
nếu có ai đó ca ngợi: Ồ, anh Kèo như rứa nhưng sống có đạo đức lắm, lại thông
minh và có lòng giúp đỡ mọi người, mặc dầu anh ta chưa giúp ai chút nào hết.
Nhưng khi nghe ca ngợi là Kèo có đạo đức, hay giúp đỡ người thì thích lắm. Khi
đã chấp cái giả làm thật như vậy rồi thì quyết sống chết với nó. Đó thật là vô
minh mà mình không biết, cho nên cứ sống chết với nó .
Trái
lại Phật là đấng giác ngộ, Ngài không chấp ta, của ta và vì ta nên Ngài được tự
tại. Là Phật tử mình phải học cái trí tuệ của Ngài để chữa cái bệnh vô minh đó.
Thứ đến là phải biết cái luật nhân quả, bởi vì mọi sự mọi vật giữa đời này là
quay theo luật nhân nào quả nấy, giống như cây chua thì sinh trái chua, giống
lúa thì trồng lên cây lúa, giống bắp thì trồng lên cây bẩp. Như vậy là hành
động thiện thì đưa đến quả thiện, hành động ác thì đưa đến quả ác. Ai biết được
luật nhân quả là người có trí tuệ. Thứ ba là biết được luật vô thường của vạn
pháp là sự vật không đứng yên một chỗ. Không đứng yên một chỗ cho nên đã có
ngày sanh tức phái có ngày chết. Chứ nếu đứng một chỗ chắc chắn bây giờ chúng
sanh đứng chật ních cả vũ trụ, đứng yên một chỗ chứ không đi đâu được hết.
Nhưng mà luật vô thường có sanh thì có diệt, nên chúng ta hiện còn có chỗ để đi
tới đi lui. Vô thường không phải trong từng kỳ hạn mà vô thường trong từng sát
na. Ví dụ: Tóc trên đầu ta bạc từ khi nào đố mấy ai biết được. Ai biết tóc trên
đầu mình nó bạc vào giờ nào, phút nào không? Không biết. Lâu lâu soi gương thấy
nó bạc vài sợi mới biết tóc ta hôm nay bạc rồi, nhưng kỳ thật nó đang bạc mà
mình không thấy. Nó bạc trong từng tích tắc trong từng ly từng tí mà cứ ngỡ tóc
mình còn xanh. Từ đó đâm ra kiêu ngạo chê tóc anh bạc, tóc tôi xanh, tôi xanh
anh bạc, nhưng kỳ thật cả hai đều đang bị lão hóa, đang bị bạc dần, nếu hiểu rõ
luật nhân quả, hiểu rõ luật vô thường, vô ngã, và cũng còn phải hiểu rõ cái
thực tánh, thực tướng của sự vật, cái sai biệt, cái đồng nhất của sự vật nữa.
Chúng ta biết sự vật đây là biết trên sự sai khác của nó mà thôi, như cái bông
này trắng, bông kia xanh, bông nọ đỏ, bông kia cao, bông đó thấp. Người này
gầy, người kia mập, cái đó dài, cái kia ngắn . . . chúng ta chỉ biết cái
sai biệt nọ kia như vậy thôi, chứ không biết cái đồng nhất của vạn pháp, không
biết cái bình đẳng của tất cả vạn pháp.
Đức
Phật dạy cho chúng ta, mở mắt mở lòng cho chúng ta phải nhìn đủ cả hai phương
diện: Sự sai biệt và đồng nhất của vạn pháp thì mới gọi là thấy đúng sự vật. Ví
dụ: Tôi đưa ngón tay lên, xin hỏi quí vị ngón tay này dài hay ngắn? Có ai nói
ngón tay này dài không? Có ai nói ngón tay này ngắn không? Chắc không ai nói
ngón tay này dài, ngón tay kia ngắn. Nhưng nếu để kèm vào đây một cái thước thì
ta mới so sánh nói ngón tay ngắn và cái thước dài. Để kề bên một que diêm thì
ta nói que diêm ngắn ngón tay dài. Thế là vì đem cái tâm so sánh nên người thì
nói ngón tay ngắn, cái thước dài...
Khi đó, anh nói ngón tay ngắn thì cho mình đúng, còn anh nói ngón
tay dài thì cho là sai, là không đúng. Ngón tay ngắn mà cứ nói dài là vô minh.
Cả hai đều nói ngón tay dài, ngắn nên sinh ra cãi vả, có khi dẫn tới đánh lộn
nhau. Dầu có cãi vả dài ngắn gì đi chăng nữa thì ngón tay vẫn là ngón tay.
Trong khi anh nói ngón tay dài thì ngón tay cũng không dài thêm một chút nào! Trong khi nói ngón tay ngắn thì ngón tay cũng
không ngắn bớt một chút nào. Vậy thì ngón tay không dài cũng không ngắn, nhưng
vì ta vô tình so sánh cái này qua cái khác rồi nói đài ngắn thành ra sinh sự
xích mích với nhau. Thế là chúng ta sinh sự xích mích vì cái chúng ta tạo ra
chứ không phải ngón tay dài ngắn gì hết. Cái đó trong nhà Phật gọi là Duy thức biến. Do cái
thức biến này, cái tướng dài ngắn này là cái thức ta biến mà ta không biết cái
thức ta biến, rồi ta chấp chặt, một bên thì nói nhất định dài, một bên nói nhất
định ngắn, hai cái nhất định đó sẽ va chạm nhau. Nếu hiểu rằng cái đài cái ngắn
đó chỉ là do thức biến, chứ ngón tay không dài không ngắn gì hết, khi ấy ta sẽ
ngồi cười với nhau, hòa thuận không ai sinh sự với ai hết.
Do
đó đầy đủ trí tuệ thì chúng ta sẽ mở mang cái tầm nhìn của mình đến sự vật, tức
là chúng ta sẽ sống được một tâm hồn rộng mở. Khi đã sống rộng mở thì chúng ta
sẽ có hạnh phúc an lạc.
Nói
tóm lại, với 4 điều kiện. Đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí và
đầy đủ trí tuệ là sẽ đem lại hạnh phúc an lạc cho tương lai. Cộng với đầy đủ
tháo vác, đầy đủ sự phòng hộ, làm bạn với thiện và đầy đủ sự sống thăng bằng
điều độ, không đam mê rượu chè, không đam mê cờ bạc, không đam mê sắc dục và
không giao du bạn ác là những điều đem lại hạnh phúc an lạc cho tương lai, cho
trong hiện tại.
Đây
là một bài kinh đức Phật dạy rất thâm thúy, vừa cao vừa thấp, nếu chúng ta áp
dụng vào trong cuộc sống thì sẽ đem lại hạnh phúc cho tương lai. Hàng Phật tử
chúng ta hiểu được như vậy, cố gắng thực hành lời Phật dạy, tức nhiên chúng ta
sẽ thấy mình được an lạc, dầu không được viên mãn cũng hơn là khi chúng ta chưa
biết lời dạy đó.
Các
Phật tử, tất cả những điều tôi nói trong buổi giảng hôm nay đều dẫn ra từ trong
kinh đức Phật dạy. Nhưng lời dạy đó là một trong muôn ngàn lời dạy của Ngài mà
thôi. Còn biết bao nhiêu trường hợp khác đức Phật còn dạy nhiều giáo lý thậm
thâm vi diệu khác nữa, nếu chúng ta đủ cơ duyên thì chúng ta có thể học hỏi
thêm, tu tập thêm để cho mỗi ngày chúng ta thấm nhuần được giáo lý của Phật, tự
nhiên tâm hồn của ta, đời sống của ta được sống nhịp nhàng theo lời dạy của đức
Phật để được an lạc giải thoát.
Tôi
cầu mong tất cả Phật tử được bồ-đề tâm kiên cố, dõng mãnh và luôn luôn tỉến
bước trên đường giải thoát của đức Phật./.