Phật Học Online

THAM LUẬN TẠI HỘI THẢO HOẰNG PHÁP TOÀN QUỐC 2011
Vai trò của nghi lễ trong việc tải đạo vào đời
Tỳ Kheo: THÍCH QUẢNG HUY Đơn vị tỉnh Phú Yên

Nghi lễ là một bộ phận quan trọng và thiết yếu trong sự tồn tại và phát triển của một Tôn giáo. Vì vậy, Phật giáo Ấn độ từ khi đức Phật còn tại thế, Ngài đã biết vận dụng nghi lễ rườm rà của Bà La Môn giáo, thành lễ nghi của Phật giáo nhưng rất đơn giản, chủ yếu là nêu cao ý nghĩa cuộc sống chứ không đặt nặng về cầu nguyện. Đến khi Phật giáo truyền đến các nước, thì không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh qua việc giảng kinh thuyết pháp mà còn hòa mình vào phong tục, tập quán, văn hoá bản địa, để giúp quần chúng trong những sinh hoạt xã hội như hôn quan tế lễ. Cho nên, bộ phận Nghi lễ Phật giáo được hình thành. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào văn hoá bản địa mà nghi lễ mỗi nước, mỗi vùng, miền có một sắc thái riêng biệt.

Việt Nam là một đất nước có một nền văn hoá tín ngưỡng rất phong phú từ ngàn xưa, nên Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập đã sớm hòa vào nếp sống văn hoá tín ngưỡng của nước ta mà hình thành những Nghi lễ Phật giáo rất đặc trưng cho từng vùng, miền. Sự phát triển rộng rãi của Phật giáo Việt nam ngày nay, có sự góp phần không nhỏ của yếu tố Nghi lễ Phật giáo. Chúng ta tìm lại ý nghĩa của danh từ “Nghi Lễ” là gì?

- Nghi: Là dáng, mẫu nghi, nghi lễ, khuôn phép…

- Lễ: Là lễ giáo, lễ bái, cúng tế, tôn thờ cung kính…

Như vậy, theo nghĩa rộng thì Nghi lễ bao trùm hành vi, thái độ, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hoá, ngôn ngữ, phong cách của con người và xã hội. Ở nghĩa hẹp thì nghi lễ là nghi thức hành lễ, tụng niệm mang tính tín ngưỡng thờ phụng của một Tôn giáo. Người xưa cũng có câu: “Nghi tại tướng, Lễ Tại tâm”. Với hình thức “Viên đảnh phương bào tướng” và chí nguyện “Thượng cầu hạ hoá” của người tu sĩ Phật giáo không thể không biết Nghi lễ. Vì nghi lễ liên quan đến oai nghi, quy củ Thiền môn mà mỗi người phải trang nghiêm tự thân. Lại có câu: “Hữu Oai khả uý, hữu Nghi khả kính”. Nói một cách đầy đủ thì ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh đều là nghi lễ.

Nghi lễ Phật giáo là sự thể hiện văn hoá, nghệ thuật Phật giáo để chuyển tải giáo lý cao siêu của đức Phật đi vào đời một cách nhẹ nhàng, sâu lắng mà hữu hiệu. Để biểu hiện lòng tôn kính Tam bảo, người Phật tử thường đảnh lễ cúng dường, ca ngợi, tán dương Ba ngôi báu, khi niềm tin Tam bảo sâu sắc sẽ tạo một sự chuyển hoá trong tâm hồn họ, triết lý cao siêu của đức Phật được họ cảm nhận bằng trái tim hơn là bằng trí óc. Có những bài tán, bài vịnh, hay kệ tụng có ý nghĩa rất thâm thuý làm người nghe xúc động mạnh, khiến tâm hồn ta sáng lên, dọn đường cho một sự đạt ngộ chân như bằng sự rung cảm diệu kỳ.

Ở các nước Á đông, nhất là đối với nước Việt Nam chúng ta, từ ngàn xưa nghi lễ đã là nhu cầu không thể thiếu trong việc thờ phụng tổ tiên ông bà và tín ngưỡng dân gian, nó là một bộ phận không thể tách rời trong cuộc sống, mà trở thành nét đẹp văn hoá tín ngưỡng của dân tộc ta. Nghi lễ Phật giáo đóng vai trò quan trọng làm nên nét đẹp văn hoá Phật giáo và góp phần tô điểm thêm nét đặc sắc trong vườn hoa văn hoá tín ngưỡng Việt Nam. Ngày nay, âm nhạc tán tụng theo nghi lễ Phật giáo đã được UNESSCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Trong Phật giáo có rất nhiều Pháp sự như: Cầu an, Cầu siêu, Chẩn tế, Phóng sanh, Phóng đăng…Vì đó là một nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong sinh hoạt quần chúng nói chung, và trong sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của Phật tử nói riêng. Sự cầu nguyện theo quan niệm Phật giáo là không phải van xin thần thánh hay bất cứ một lực lượng quyền năng nào, mà cầu nguyện là bày tỏ lòng khiêm hạ, sự kính thành đối với những bậc đã giác ngộ giải thoát, là sự tập trung dòng tư tưởng, dồn điện lực của tinh thần vào một chỗ, tạo thành dòng năng lượng để chuyển đổi quan niệm mê lầm, xấu ác trở nên trong sáng và lương thiện. Cầu nguyện là một cách định tâm, định ý để chuyển hóa lòng mình, lòng người.

Tuy nhiên, dù thể hiện dưới  hình thức nào Nghi lễ Phật giáo cũng là phương tiện để chuyển Đạo vào Đời, tải Phật chất đến lòng người. Thực hiện nghi lễ Phật giáo là một trong hai con đường hoằng pháp trực tiếp và hữu hiệu. Một cách thức là dùng ngôn ngữ để khai mở nhận thức, tư duy tu tập, hướng đến giác ngộ chân lý; một lối là dùng nghi thức hành lễ để chuyển hóa tâm linh, bằng sự rung cảm mở đường cho một sự khai phóng tâm linh trác tuyệt, cảm hoá tha nhân quay về với Chánh đạo. Phương pháp tuy có khác nhưng cùng chung một mục tiêu hoằng pháp lợi sanh. Có thể nói: Nghi lễ là hoằng pháp, Nghi lễ là giáo dục, nghi lễ là một pháp môn tu tập, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm bản thân, đầy đủ oai nghi và đức hạnh, xứng đáng để cho trời, người cung kính.

Là một nhà Hoằng pháp hay trong cương vị của một người Trụ trì, cần phải vững chãi về nghi lễ, thông suốt cả sự và lý trong việc dùng nghi lễ Phật giáo, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh như là một phương tiện tiếp cận quần chúng và hướng họ về đời sống thánh thiện. Đây là một trong vô lượng pháp môn tối cần mà Đức Phật cũng như Chư vị Tổ sư đã chỉ dạy, nếu hành giả quán triệt được tính chất  “Tuỳ duyên bất biến” của Hoằng Pháp, thì Nghi lễ là phương tiện tối ưu để thành tựu đạo nghiệp.

Người dân phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng sống nặng về tình cảm, và có nhu cầu tín ngưỡng cao. Nhất là trong cuộc sống vật chất ngày càng phát triển như hiện nay, đòi hỏi nhu cầu đời sống tâm linh của người dân càng cao. Khi họ tiếp xúc với  Đạo Phật thông qua nghi lễ sẽ làm cho nhu cầu tín ngưỡng được nâng lên, trong sáng hơn, đời sống tâm linh sẽ thánh thiện hơn. Nhờ vậy mà nghi lễ Phật giáo mặc nhiên trở thành phương tiện hành đạo, tiếp chúng độ sanh phổ biến và thiết thực hơn cả.

Trong thực tế, đông đảo quần chúng đến với Đạo Phật bằng những nhu cầu tín ngưỡng như: Cầu an, Cầu siêu, Ma chay, Cưới hỏi… Có những gia đình chưa hề đến Chùa nhưng khi gặp hữu sự như có người thân qua đời, họ đến Chùa thỉnh Tăng, Ni giúp lo việc hiếu sự và sau đó trở thành tín đồ nhà Phật. Phần đông những người bình dân đến cửa Chùa không phải để học hỏi giáo lý mà để tu tập, mà vì nhu cầu về tín ngưỡng cúng tế, làm pháp sự. Vì vậy, đối với họ, một tu sĩ cần thiết là một vị đáp ứng được nhu cầu lễ nghi cúng tế, rồi mới kể đến trình độ học vấn về giáo lý của chư Tăng, Ni. Nói như vậy, không phải coi khinh cái học giáo lý mà chúng ta phải biết vận dụng cái phương tiện để đưa đến cứu cánh, và để đánh đổ những tư tưởng lệch lạc, thành kiến đối với nghi lễ, ứng phú đạo tràng. Vấn đề là ở chỗ ta xem nghi lễ là phương tiện vì độ sanh hay là cứu cánh vì lợi dưỡng.

Nếu công tác Từ Thiện là phương tiện để Hoằng pháp ở mặt vật chất, thì Nghi lễ là cách thức chuyển tải Đạo vào Đời bằng sự rung cảm của tâm hồn. Cảm nhận qua lời Kinh, tiếng kệ với âm điệu trầm bổng ngân nga, hòa nhịp với những pháp khí chuông, mõ, tang đẩu giúp cho lòng người, thanh tịnh, an lạc, hóa giải được những ưu phiền đã lắng sâu nơi tâm thức. Đó mới là ý nghĩa đích thực của nghi lễ Phật giáo, nhằm khơi dậy chủng tử Phật tánh trong mỗi chúng sanh thông qua nghi lễ.

Để công tác nghi lễ đạt được hiệu quả Hoằng Pháp cao, thiết nghĩ chúng ta phải lưu tâm những yếu tố sau:

-Tự thân người hành lễ phải có đạo phong trang nghiêm, thanh tịnh, Uy nghi đĩnh đạc, không liếc ngó dọc ngang, cười nói lăng xăng, mà phải tâm thành cung kính; Y, Áo, Mão, pháp phục phải  trang nghiêm phù hợp với buổi lễ. Âm thanh xướng tụng phải trầm hùng, lên xuống nhịp nhàng, và mang Thiền vị.

- Chúng ta cần có những bài pháp thoại khai thị, lay tỉnh cho hương linh trong những buổi lễ Quy linh, Tiến linh, Tịch điện và thông qua đó gia quyến của họ hiểu được các pháp là vô ngã, cuộc đời là vô thường, để thức tỉnh tu hành cầu mong giải thoát. Vì đây là một phương tiện để dẫn dắt mọi người biết quy y Tam bảo.

- Người làm công tác nghi lễ phải vững chãi về nghi lễ, có một trình độ nhất định về chức năng truyền đạt và cảm thụ. Và người làm pháp sự phải biết vận dụng kỹ năng chuyên môn để gieo vào lòng người cảm giác an lạc, giải thoát. 

- Khi hành lễ, chúng ta chú trọng đến năng lượng tâm, khi một người tập trung cầu nguyện sẽ phóng ra một năng lượng tâm linh, luồng năng lượng ấy sẽ tạo ảnh hưởng lên thể chất và tinh thần, chuyển hoá khổ đau của đối tượng được cầu nguyện.

- Hành giả phải luôn ý thức được rằng nghi lễ chỉ là phương tiện để hướng quần chúng vào đạo, khi họ đến với đạo phải hướng dẫn tu tập để được sự an lạc, giải thoát mới là mục đích cứu cánh của người hành trì nghi lễ.

- Nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh ngày càng cao, nhưng đại đa số dân chúng nặng về hình thức, chuộng thanh văn sắc tướng, chỉ biết nhu cầu cúng tế, mà không hiểu được ý nghĩa sâu xa của nghi lễ, dẫn đến tình trạng rất nhiều Tăng sĩ non kém đạo lực, chẳng có đạo tâm, thiếu chiều sâu về sự tu tập tâm linh đã lợi dụng nghi lễ như một phương tiện mưu cầu lợi dưỡng trái với Chánh đạo, ảnh hưởng lớn đến sự tôn nghiêm hình ảnh giải thoát của Tăng già. Trước tình hình này, chúng con thiết nghĩ Ban Tăng Sự, Ban Nghi Lễ Trung ương cũng như các Tỉnh, Thành nên có quy chế, quy định đối với việc này.

Cuối cùng, Nghi lễ đóng vai trò quan trọng làm nên nét đẹp văn hoá Phật giáo, không còn là một phương tiện để chưyển hóa Tâm linh, đưa người vào Đạo, mà là một pháp môn tu học để đạt ngộ chân như Phật tánh bằng sự rung cảm tâm linh. Nghi lễ Phật giáo có một giá trị rất đặc thù, đó là là một trong những con đường đưa hành giả đạt đến giác ngộ giải thoát êm đềm sâu lắng và trọn vẹn nhất./.


© 2008 -2024  Phật Học Online | Homepage