Đức Đệ Tam Pháp Chủ GHPGVN: Tu trong sự đồng nhất thân tâm
HUỆ MINH
02/03/2010 05:15 (GMT+7)

          Lời tác giả: Ngày 30-4-2007, chúng tôi có cho đăng trên trang tin điện tử Phật tử Việt Nam (www.phattuvietnam.net) bài Ngẫm về thân giáo ở Đại lão Tỳ kheo Phổ Tuệ với một số hình ảnh vê ngài. Đến nay, sau Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ đã là Đức Đệ tam Pháp chủ, bài này đã được một số website trong và ngoài nước đăng lại. Nhận thấy nội dung bài viêt nên được giới thiệu đến đông đảo Tăng Ni, cư sĩ Phật tử,  với ước nguyện, khả dĩ mang đến chư quý vị đôi điều suy ngẫm trên con đường tu tập của mình. Bài viết đã được chúng tôi chỉnh sửa đôi chút.
                                           
Đức Pháp chủ trong giờ nghiên cứu kinh điển
 Thiền và Thơ
Trong lịch sử Thiền tông, dường như hết thảy các thiền sư đều có thơ Thiền, ngay cả khi họ chưa biết chữ. Bài nào cũng hay. Không hay sao gọi là thơ Thiền? Không có thơ Thiền sao gọi là thiền sư? Và làm gì có thiền sư nào mà không là thi sĩ?
Dĩ nhiên ở đâu đó, danh từ này được dùng ở dạng tha hóa của nó.
 “Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu để thể hiện nội dung một cách hàm súc”. Do vậy, nó gần gũi với bản chất của Pháp giới. Phải chăng, các thiền sư khi đạt tới một công phu tu chứng nào đó thì có khả năng hòa cái tâm của mình vào cái tâm - pháp thân của vũ trụ, và cũng là thơ của tự nhiên. Khi đó, họ khẽ bật móng tay, khẽ đằng hắng để hé lộ ra chân tính của thiền, đó là thơ Thiền. (Ở đây tôi chưa đề cập đến các công án - ánh chớp của thiền sư).
Do vậy, tác phẩm thứ nhất của một thiền sư đó là Thiền thi. Đương nhiên với tư cách học giả, vị đó có thể để lại nhiều tác phẩm các loại khác nhau, nhưng đó lại là chuyện khác, xa lạ với Thiền.
Và tác phẩm lơn nhất, cái làm cho thiền sư đích thực là thiền sư đó chính là bản thân thiền sư: Sự đồng nhất thân - tâm.
Những dòng trên đây được tôi coi là những dòng phi lộ cho bài viết về Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ - Tổ Ráng - Đức Đệ tam Pháp chủ GHPGVN. Như ai đó đã nói: Lời khen của chúng ta không đủ làm các ngài cao thêm và lời chê của chúng ta cũng không đủ làm các ngài thấp đi. Vậy thôi!
Có thể ai đó cho rằng, bài viết này của tôi là võ đoan. Nhưng không sao, tôi yêu sự võ đoán của mình. Có lý thuyết nào ban đầu mà không ở dạng võ đoán đâu!
Thơ Tết và chậu lan
Tổ Ráng yêu thơ và hay thơ. Những bài thơ Tổ viết ra thường chỉ được lưu truyền trong chốn thiền môn. Mùa Xuân năm 2006, khi Tổ 90 tuổi, đâu đó thấy có bài thơ “Cỗ Tết nhà chùa” của Tổ:
“Nhà chùa Tết nhất nghĩ mà vui
Lộc Phật ban cho đủ mọi mùi.
Giò Thủ Lăng Nghiêm, Viên Giác bánh
Chè Ba la mật, Pháp Hoa xôi
Kìa mâm Bảo Tích, bày trăm vị
Nọ đũa Kim Cương sắp bốn đôi
Chiếu giải Luật nghi nhà Trượng thất
Bạn cao Tăng đạo thỉnh lên ngồi”.

      Trên mâm cỗ nhà chùa của Tổ đủ tên các món và đồ ăn thế gian: giò, bánh, chè, xôi, mâm, đũa, chiếu… nhưng hương vị thì thấm đẫm Phật pháp: chùa, Phật, Thủ Lăng Nghiêm, Đại Viên Giác, Đại Bát Nhã Ba la mật, Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bảo Tích, Kim Cương, Luật nghi, Tăng…
      Vật báu của chư Phật, huệ mạng của chư Bồ tát được Tổ bày ra, không phải chỉ để kính để thờ, để chiêm ngắm, mà còn coi là món ăn, đồ dùng. Luật nghi được Tổ trải ra làm chiếu... Rồi thức ăn được tiêu hóa: tinh ba ngấm vào người, nuôi dưỡng và làm thanh tịnh thân, tâm; cặn bã bị đào thải, lam thức ăn cho các loài khác. Tất cả đều qua đi, cùng lắm cũng chỉ còn lại “Dư âm” (tên tác phẩm của Tổ). Đó há chẳng phải là tinh thần rốt ráo của sự học Phật ư?
                                                          
Chư Tăng đến đảnh lễ Đức Pháp chủ

Kỳ diệu thay, mâm cỗ ấy luôn tinh khôi, Tổ luôn để đó đợi bạn cao tăng! Và có lẽ, chỉ có các bậc cao tăng mới đủ bản lĩnh và thần thức để thụ hưởng cỗ Tết nhà chùa theo tinh thần Phổ Tuệ.
Trong nhà Tổ chùa Ráng có kê một cỗ sập cũ kỹ nhưng luôn sạch bóng. Trên đó trống vắng, đôi khi chỉ duy có một chậu lan rất đẹp. Chắc được Tổ để tâm nên chậu lan luôn tươi mới. Hoa thực chất cũng chỉ là bộ phận tạo giống truyền thừa các thế hệ của cây cỏ mà thôi. Nhưng lan này có hoa mà không đậu quả, giống như “con lừa ba chân” trong Khóa hư lục mà Tổ đã chỉ dạy. Ở đó, sinh tử đoạn tuyệt!
Mỗi ngày là một ngày mới
Có ai đó đang đi đi về về chùa Ráng, thấy năm tháng trôi đi dường như chẳng mấy đổi thay. Vẫn cảnh ấy, vẫn người ấy. Dấu ấn của thời gian xoay vần quanh một Người - nhà sư Phổ Tuệ - Đức Đệ tam Pháp chủ Phật giáo Việt Nam. Sang xuân 2008 này, Tổ đã sang tuổi 93, mà vẫn giữ được bản tâm như trẻ thơ. Vì không cũ đi cho nên luôn luôn mới. Với Tổ, mỗi ngày là một ngày mới.
Ai chẳng biết công việc ở chốn thiền môn thường xuyên lặp đi lặp lại, nhàm chán. Nhiều lúc tôi lẩn thẩn tự hỏi: không biết trong gần 90 năm qua, Tổ lễ Phật đã bao nhiêu lần? Thế mà mỗi ngày lên chùa, đối với Tổ vẫn kính cẩn, mới mẻ; khuôn mặt, ánh mắt đầy xúc cảm của thuở ban đầu. Một mình lặng lẽ lau mắt kính để nhìn cho rõ, đâu đó nơi cao xanh. Tôi thấy trên khuôn mặt ấy, ánh mắt ấy, rõ mồn một hình ảnh chú Sa di Phổ Tuệ trong sáng, hồn nhiên của gần 90 năm trước. Thời gian hơn một đời người bình thường đã trôi qua, cái tâm ban đầu vẫn không đổi khác, đó chẳng phải là thiền sao?
Thiền hành: cối đá và cầu ao
Trên lối ngách từ nhà bếp lên nhà Tổ ở chùa Ráng, không xây bậc tam cấp, cho dù thềm cao tới 1m, trước đây, đặt vào đó là cái cối đá vỡ đôi được buộc lại sơ sài bằng một sợi lạt tre, chông chênh, rất nguy hiểm cho người đi lại. Ban đầu mấy lần tôi suýt ngã. Hú vía! May chống được tay. Nhưng vị sư già hơn 90 tuổi vẫn thong dong đi lại hàng đêm, bình an, như không.
       Tôi đã được nghe ở đâu đó nói về thiền hành, sự thong dong, thảnh thơi, vững chãi trên những con đường uốn lượn, trong những cánh rừng râm mát hay trong những thiền đường thâm nghiêm. Đối với Tổ Ráng, thiền hành theo nghĩa đó thật hiếm gặp. Con đường mà Tổ thiền hành hàng ngày lắm gập ghềnh, đầy gai tre.
Trong tôi bỗng dội lên hình ảnh thầy Phổ Tuệ cao gầy, trong suốt hơn nửa thế kỷ, chiêm mùa đôi vụ, lấm lem trên những luống cày, mùa Hạ nóng chết đỉa, mùa Đông lạnh buốt xương, chân tay nứt nẻ. Mồ hôi cay sè trên mắt, mặn chát trên môi. Và đêm về: tụng kinh, niệm Phật, đọc sách, luyện chữ… Nhẫn nại, kiên cường để làm nên một thiền sư mà chúng ta đang thầm nhắc hôm nay.
Trước đại điện chùa Ráng có vạt ao sen, “bãi bể nương dâu”, nay có thêm một bảo tháp thờ Phật ở giữa. Vạt ao được chia làm hai, nhỏ và xinh hơn, nhưng không còn cái thoáng đãng, hoang sơ. Trên ao có chiếc cầu tre nhỏ xa, và chênh vênh. Đó là cầu hái sen cúng Phật, lấy nước tưới rau, tắm giặt, có lẽ là tất cả và hơn thế nữa!
Tôi thấy dội ở đâu đó về ảnh tưởng: Chạng vạng chiều mùa Hạ năm nào đó, trên cầu ao vài nhà sư áo buộc vạt, chân lấm bùn trầy trợt gánh nước làm vườn. Đêm về, chụm đầu bên ngọn đèn dầu mải mê dịch kinh, viết sách. Rồi kẻ đi, người ở, tử biệt, sinh ly. Nhưng tôi tin rằng, sự cộng thông tâm tưởng của chư vị chưa hề cách quãng.
Đồng dạng với Phật và Tổ
                                             


Có người ở đâu đó khi về chùa Ráng đã khởi tâm thương xót: nhà chùa thanh bạch và vất vả quá; có chăng an ủi đôi phần là thấy Tổ mạnh khỏe: sang tuổi 93 mà thuyết Pháp vẫn sang sảng, làm việc luôn tay, đi lại nhanh nhẹn với đôi guốc mộc tự đẽo trên những lối đi lổn nhổn gạch đá, rễ cây chằng chịt mà không hề vướng vấp; nhiều lúc sợ Tổ ngã, ai đó nhắc, Tổ khẽ gắt lại: Sao mà ngã được! Hơn 90 tuổi hoa mắt là chuyện thường, chẳng ai giận Tổ cả.
Khi giảng Pháp, Tổ thường vận những tấm y cũ, vải thô, nhiều khi chấm rách đôi chỗ. Hết mực giản dị mà vẫn uy nghi, trác việt. Không biết 2.500 năm trước, Đức Thích Ca ăn mặc ra sao, nhưng đâu đó có bài vịnh rằng:
Rồi từ đó trên bước đường vạn dặm
Một bóng người trong manh áo tả tơi
Mãi dấn thân vào hạnh nguyện  độ đời
Người đi mãi trên con đường giải thoát”.
Rồi khi Tổ làm ruộng, làm vườn, chẻ củi, quét tước… Tổ đâu có xa lạ với chư Tổ tiền bối. Phải chăng tu là làm theo, nói theo, nghĩ theo những điều ma chư Phật, chư Tổ đã nói, đã làm? Mục đích là từng bước đạt tới sự đồng dạng, ngày càng trùng với chư Phật và chư Tổ? Tôi chợt giật mình thấy rằng “Tổ” đâu có xa! Dân chúng và các thầy đều đã gọi đấy thôi!
Thi thoảng có khách “sang”, ai đó nhắc Tổ thay y. Chiều lòng, Tổ đi thay, (Tổ cũng chẳng thiếu vài manh áo), nhưng lại ngâm nga ngầm mắng:
Thế gian hoa mắt áo quần sang
Tăng sĩ cần chi phải điểm trang
Đẹp lắm thời càng đam mê lắm
Ăn nhờ tín thí chớ huênh hoang”.
Thực ra cả đời Tổ Ráng cho tới tận bây giờ, sống luôn khắc khổ, tự lực cánh sinh, tự cấp tự túc, với Tổ dường như “một ngày không làm là không ăn” theo gương một vị Tổ tiền bối nào đó.
Thuở tráng niên và sau này, Tổ không có điều kiện theo học các trường lớp lớn và chính quy. Không được học nhiều ngoại điển, Tổ chỉ học Phật, chư Tổ ở các Tổ đình và tự học, miệt mài, cần mẫn, chuyên sâu, “học không biết chán”, triệt để theo Văn - Tư - Tu của nhà Phật. Thời gian gần một thế kỷ trôi đi, đã hun đúc nên một Đức Pháp chủ không ngại mang danh Phổ Tuệ của ngày hôm nay.
Tổ chỉ biên soạn, dịch thuật, trước tác: Bách Dụ Kinh, Phật Tổ Tam Kinh, Bát Nhã Dư Âm, Đề cương kinh Pháp Hoa, Phật học là Tuệ học, tham gia biên tập Đại Tạng kinh Việt Nam, Đại Luật, Từ điển Phật học, v.v... Và giảng dạy: Luật nghi, Lăng Nghiêm, Duy thức học, Nhị khóa hiệp giải… Còn các lĩnh vực ngoại điển khác thì Tổ không mấy khi đề cập!
Cho dù đã hơn sáu mươi năm “dạy không biết mỏi”, thế mà đến ngày Nhà giáo Việt Nam, chư đệ tử đến mừng thầy thì Tổ không ngần ngại gạt đi mà bảo: Chúng tôi không phải là nhà giáo, chúng tôi trước sau chỉ là nhà tu hành. Chẳng biết là sao!
Với chiếc máy ảnh hiện đại trên tay, quanh quẩn ở chùa Ráng, có lẽ nhiều nhà nghiên cứu Phật học đã tần ngần rằng, một bậc chân tu và Phổ Tuệ như vậy mà không có điều kiện để trở nên quảng bác ngoại điển. Còn thầy Tịnh Hạnh từ Đài Bắc tới thì có lẽ không tin nổi là chùa Ráng chẳng có thư viện nào cả, sách vở chẳng có gì ngoài mấy giá kinh Phật.
Chữ danh
Tuy trước đây, đứng ra gánh vác các trách nhiệm như Hạ chủ các trường hạ của Hà Tây, Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Hà Tây, Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Hà Tây, Đại lão Giáo thụ của HVPGVN, Viện trưởng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội, Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên Cứu Phật Học, Phó Chủ tịch HĐTS kiêm Phó ban Tăng sự, Phó Pháp chủ, Chánh Thư ký HĐCM và bây giờ là Đức Đệ tam Pháp chủ Phật giáo Việt Nam, vậy nhưng Tổ Ráng nhàn thế sự lắm! Rất ít khi Tổ ra nơi đô hội, thi thoảng thôi. Có ra thì lại vội trở về.

     Có nhiều vị ở Trung ương Giáo hội cũng như đông đảo Tăng Ni, cư sĩ Phật tử mong mỏi và đề đạt nguyện vọng thỉnh cầu Đức Pháp chủ ra trụ xứ tại chùa Quán Sứ - Trụ sở của Trung ương Giáo hội, nhưng không hiểu sao Tổ không ra hẳn, mà chỉ đi đi về về khi có Đại Phật sự thôi. Còn thường nhật, Tổ trụ tại chùa Ráng - Viên Minh tự, cách Quán Sứ 60 cây số, tại Xã Quang Lãng huyện Phú Xuyên - Hà Tây, là nơi xa xôi cách trở, điểm cực Nam của Hà Tây, tiếp giáp với Hưng Yên và Hà Nam.
Phải chăng Tổ sống như chư Tổ thường dạy:
Nhập trần tri túc tâm thường lạc
Xuất thế vô cầu phẩm giá cao”.

Chùa Ráng là nơi đặc biệt vắng vẻ, ngay cả ngày tuần. Dân lân cận ít đến vì đây là chùa hai dân - chung của hai làng. Khách nơi xa thì hy hữu lắm.
Nhà chùa thường có một bầy chó rất đông. Tổ thương lắm. Đích thân Tổ thường trộn thức ăn cho chúng và cởi dây thả chúng ra trước các bữa ăn, ngày nào cũng vậy, đã hàng nhiều chục năm. Tổ gọi chúng là các cháu, đôi khi mắng mỏ. Tổ nói chuyện với chúng như với những người bạn khác loài. Có lúc 3 - 4 giờ sáng, chúng ngồi quanh Tổ trước nhà Tổ nghe Tổ giảng Pháp. Tổ coi chúng như người. Chúng nghe lời Tổ như người nghe, biết lạy, dường như hiểu cả, chỉ không biết nói. Tôi bàng hoàng chợt nghĩ đến đâu đó sâu xa. Có lúc thấy chúng rơm rớm nước ở nơi khóe mắt? Tôi thấy cũng lạ thật, mà chưa dám hỏi Tổ. Có lẽ nên tự hiểu thì hơn.
Bên ngoài trời đã tang tảng sáng, chuông đồng hồ thong thả điểm 4 tiếng, sương giăng đầy một màu nước gạo. Sau thời khai tỉnh, bóng vị sư già 93 tuổi - Đức Đệ tam Pháp chủ của chúng ta, vẫn vậy, trong tấm áo choàng nâu sồng cũ kỹ muôn thuở, không chút thay đổi, lại thấp thoáng trên những lối đi quen thuộc. Tiếng guốc lọc cọc khi gần khi xa. Dư âm của nó lan tỏa vào thinh không. Phương Đông rạng, hắt ánh hồng nhạt lên bầu trời sớm mùa Xuân sinh.Chúng tôi giật mình nhận ra, mình đang sống trong một ngày mới.
 

Các tin đã đăng: