[02]
Ðịnh
Con bướm
bay lượn trên các thứ hoa, lựa hoa nào hương thơm ngát, đáp xuống say sưa hút
nhụy.
Người mộ đạo phải biết ý thức
đâu là Chánh-giáo để thưởng thức mùi hương Vi diệu.
Một nhóm Ðạo lõa thể Nigantha
(Kì-Na-Giáo), cho rằng Ðức-Phật không hạnh-phúc bằng Quốc-vương Bimbisãra (Bình-Sa-Vương)
xứ Magadha
(Ma-Kiệt-Ðà), vì Ngài sống thiếu thốn về mọi mặt. Trong khi nhà vua có nhiều
thế lực và thụ hưởng đầy đủ tiện-nghi vật-chất.
Ðức Thế Tôn hỏi lại:
"Này các ông bạn, vậy các
ông nghĩ sao? Vua Bimbisãra, xứ Magadha (Ma Kiệt Ðà) có thể nào
ngồi yên không cử động nói năng, không ăn uống trong thời-gian một ngày một
đêm, mà vẫn hạnh-phúc chăng?"
-"Không sao thế được".
"Còn Như-Lai, thì có thể
ngồi yên không cử-động nói năng, không ăn uống chẳng những trong một một ngày
một đêm, mà cho đến hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngày bảy đêm mà vẫn an vui tự
tại. Vậy giữa Vua Bimbisãra và Như-Lai, ai hạnh-phúc nhiều hơn?"
-"Bạch Thầy Gotama
đáng kính, nếu vậy thì Ngài có hạnh-phúc nhiều hơn Vua Bimbisãra xứ Magadha
(Ma-Kiệt-Ðà) rồi!" (Majjhima Nikãya - 14)
Ðức-Phật kể câu chuyện trên đây
để chứng-minh rằng hạnh-phúc cao-thượng, chỉ tìm được trong Chánh-Ðịnh. Vì cái
tâm yên-tĩnh, vắng lặng, hằng đem lại mùi vị tuyệt vời của Ðạo, khác hơn
hạnh-phúc tương đối thế-gian chỉ là bề trái của các niềm thống khổ.
Nào ai có thể quả quyết rằng
mình sống hạnh-phúc, trong khi chưa diệt được thảm họa: sanh, già, đau, chết!
Khi còn phải gánh vô số nghiệp quả trái ngang, khi còn bị dục-vọng xô đẩy mình
vào vòng tội-lỗi trong sinh-hoạt hằng ngày để bảo toàn mạng sống? Của cải, tiền
tài, sự nghiệp, danh vọng, hay cả đến vợ con đôi khi cũng chỉ là tạm bợ.
Có khi ngủ một giấc đến sáng,
tất cả đều không còn, khi nhắm mắt lìa đời cũng chẳng đem theo được gì. Tay trắng lại hoàn toàn tay trắng. Bởi vậy Ðức-Phật ví
những thứ đó là bọt nước, là chớp trên không là mây trời giả hợp.
Ðức-Phật thuyết:
"Này hỡi các thầy Tỳ-Khưu!
Người đời có thể thỏa-mãn về vật-chất, no cơm ấm áo, thân hình khoẻ-mạnh trong
một năm, hai năm..., cả trăm năm hoặc lâu hơn nữa nhưng chẳng ai tránh khỏi
chứng bệnh tinh-thần trong giây lát, ngoại trừ những bậc đã bứng tận gốc rễ
những điều ô nhiễm bên trong, đã loại trừ tất cả phiền não từ ngoại cảnh đưa
vào... Những bậc đã thoát ly trần-tục (A-La-Hán)". (Anguttara Nikãya)
Ðây là hạnh phúc trường-cửu
vững-bền của Phật-Giáo. Một thứ hạnh-phúc thành đạt nhờ tâm từ-bi hỷ-xã, trong
đó không có sợ hãi, xung chướng, dị biệt, tham lam, thù hận... mà chỉ có tình
thương rộng lớn phủ trùm lên vạn-vật. Các Bậc hiền triết đã thấu-triệt cái
Chân-lý tuyệt đối cho rằng thế-gian là bào ảnh, huyển hóa, thay đổi triền-miên,
gây ra vô số khổ đau so với vài hạnh-phúc mỏng-manh ngắn ngủi.
Mỗi Tôn-giáo trên thế-giới đều
có những phương-pháp tu-thiền riêng rẽ của mình. Nhiều nhóm tà-đạo cũng sành
sỏi trong thiền-định. Nhưng thiền-định có phàm có thánh, có chánh có tà, nên
chi người hành-đạo sáng-suốt, phải tự mình trắc nghiệm hoặc nhờ những bậc
Tôn-Sư có nhiều kinh-nhiệm thực-hành chỉ dẫn mới mong thoát khỏi lầm đường lạc
lối, lắm khi phải điên loạn tối mê, gia tăng sân-hận, tham lam.
"Hỡi này các thầy Tỳ-Khưu!
Cũng như người kia tìm bắt rắn độc. Nhưng khi gặp được con vật, người ấy lấy
tay chụp nhằm khúc giữa hay khúc đuôi. Con rắn quay đầu lại mổ vào tay, làm cho
người phải bỏ mạng.
Này các thầy Tỳ-Khưu mà tại sao
vậy? Vì người bắt rắn không nắm con vật đúng cách". (Majjhima Nikãya)
Lẽ đó, hành giả cần phải thận trọng,
vì khi người bám dính, cố chấp một thứ định tâm bất chính nào rồi thì sau khi
chết, sẽ bị lọt vào cảnh giới khổ đau tà kiến, khó bề trở lại con đường chánh
đáng.
Ðức-Phật dạy rằng sự khổ xuất
phát những điều ô nhiễm tiềm tàng (ãsava) và những phiền não (Kilesa),
do si mê, ái dục đưa vào thiêu đốt thường xuyên tâm não, không cho con người
thảnh thơi an nghỉ dù là trong khoảnh khắc.
Muốn khảo cứu chính xác khoa
Thiền Ðịnh, trước nhất cần hiểu danh từ Bhãvanã trong phạn ngữ Pãli là
thế nào?
Bhãvanã có nghĩa
là gieo trồng, phát triển, khai sáng, củng cố, để thanh lọc nội tâm cho sáng
lạn, sắc bén, hầu soi thấu vực sâu của các điều ô nhiễm bên trong và chặt đứt
tất cả phiền não do bên ngoài tác động.
Như thế, mục đích hành thiền của
Phật-Giáo là hủy-diệt si, mê, ái dục và chỉ khi nào người Giới-tử ý thức mình
đỡ khổ trong các nghịch cảnh, tinh thần an vui thơ thới, bớt tham lam, sân-hận,
thấu rõ tội-lỗi của sắc-trần, biết sống trong hiện tại, chừng đó mới nhận thức
được mức công hiệu của Chánh-Pháp là thế nào?
Trong cuộc đời khốn-khổ dồn dập
hiện nay, số người muốn khám phá thế giới tâm linh thật nhiều vô kể. Các đường
lối tu thiền khác nhau được chủ trương, số Thiền-sư cũng gia tăng. Kẻ mong
thoát khổ như bệnh nhân hối-hấp, gặp được ông lang nào cũng để hết niềm tin, hy
vọng được người cứu mạng, nên lắm lúc phó thác mình cho bàng môn tả đạo, cho
những Thiền sư giỏi về lý thuyết hơn thực hành, để rơi sâu thêm xuống hầm tà
kiến.
Ðức-Phật là bậc Thiên-Nhân Sư đã
dọn sẵn món ăn tinh thần vô giá là Pháp môn "Tứ Niệm Xứ" dạy hành giả
cố gắng quan-sát chính bản thân, để tìm ra Chân-lý và hãy luôn luôn "Sống
trong hiện tại"
Trả lời câu hỏi của một người
tại gia Ðức-Phật thuyết:
"Các thầy Tỳ-Khưu con của
Như-Lai sinh-hoạt giản-dị, chỉ ăn mỗi ngày một bữa, nhưng vẫn thanh-thản,
an-nhàn, vô tư lự, vì các vị ấy biết sống trong hiện tại không hối tiếc quá
khứ, không nghĩ đến vị lai, không bận tâm vì thế sự.
Trái lại kẻ nào mãi suy tư về dĩ
vãng, ước vọng đến tương lai, kẻ ấy phải ốm o tiều tụy, âu sầu như đám cỏ lau
bị chặt bỏ phơi ngoài nắng". (Samyutta Nikãya)
Người không tu Thiền Ðịnh hằng
ngày ít nhớ tới hành vi, ý tứ của mình, mà thường để tư-tưởng tự-do quay về quá
khứ hay chạy theo những ảo-vọng vị lai và không chịu sống trong hiện tại.
Ðang làm việc này, tâm trí họ lại
bâng quơ về những chuyện đâu đâu, hoặc đã qua rồi, hoặc sắp xảy ra, nên việc
làm sơ sót thất bại, rồi đâm ra sầu muộn.
Tứ-Niệm-Xứ là Pháp môn sống
trong hiện tại, gồm cả ba giai đoạn toàn hảo Giới - Ðịnh - Tuệ của Ðức-Phật, là
đường lối chính đáng nhất để đưa tới mục đích cuối cùng, như nhà học Phật Georges
GRIMM đã nhận định.
Bước vào thế giới Thiền
Một Thiền-sư Ấn-Ðộ nói rằng:
phần đông tu sĩ ví như kẻ bẻ cây củi gãy làm hai. Một khúc đem về đốt lửa nấu
món ăn. Khúc kia lại dành để đuổi chó, đuổi mèo. Người để một phần tâm-trí nghĩ
về đạo-đức, phần khác thì lo lắng những chuyện thế gian.
Họ lại ước mơ đắc quả Thánh-Nhân
trong vài ngày hay vài tháng vì quá tin nơi câu "Tu Nhất Kiếp, Ngộ Nhất
Thời" Pháp môn Ðốn giáo của Lục Tổ-Huệ-Năng, hay gián tiếp là của Ðạt-Ma
Tổ-Sư mà quên rằng chính Ðức-Phật Thích-Ca Gotama đã phải trải qua một
thời-gian tu tập dài vô tận mới đạt thành Chánh-Quả (Chánh-Ðẳng Chánh-Giác).
Ngài phải mất 4 A Tăng Kỳ và 100 ngàn Ðại kiếp, tu 4 lần mau hơn Ðức-Phật Di
Lạc (16 A Tăng Kỳ và 100 ngàn Ðại kiếp). Còn muốn được nhập lưu tức đắc quả
Tu-Ðà-Hườn cũng phải tạo đủ mười Pháp Ba-La-Mật chứ không phải dễ dàng như
chúng ta lầm tưởng.
Hơn nữa phần đông người tu Thiền
không được kết quả theo sở nguyện, vì thiếu chuẩn bị phước Huệ. Cũng như người
làm vườn không thể được mùa nếu không làm đất, làm cỏ, vun phân tưới nước, thì
hột giống làm sao đâm chồi, đâm bông trổ trái.
Ðã có rất nhiều kinh sách nói về
Thiền Samatha (Tịnh Tâm) và Vipassanã (Thiền Minh Sát).
Nơi đây chỉ đề cập một cách sơ
lược những gì cần phải chuẩn bị chu đáo trước khi bắt tay vào Thiền định và
cũng là yếu tố tối cần để tiến hoá.
Luận đề "Bước vào thế-giới
Thiền" được kết hợp một phần rút từ bài thuyết của Thiền Sư Yatiswarananda
tại Ðức vào năm 1933 và phần lớn là những chi tiết các Phật-Ngôn trong Tam-Tạng
Pãli, để cống hiến thêm nhiều tài liệu hữu ích cho những người bắt đầu thực
hành Thiền Ðịnh.
Rèn nhân cách
Người không hoài bảo về đạo đức
khi ở ngoài đời, dù có rời bỏ gia đình, rút sâu vào rừng vắng cũng chẳng lợi
ích gì. Thảm họa của Thế nhân là phần đông tự cho mình thông minh, học rộng,
cao kiến, hiểu biết tất cả, học hay nói giỏi. Nhưng chẳng khác chi loài quạ bay
cao thét lớn, nhưng đôi mắt lại chăm chú tìm những xác chết trong đống rác thối
tha. Người đời hiu hiu tự đắc về sức khoẻ tiền bạc của mình nên hằng đắm say
trong dục lạc, cho rằng còn sống lâu nên chẳng vội gì tu tập.
Nhưng thời gian rất nguy hiểm.
Kéo dài cuộc sống thị dục chỉ làm cho những nết hư tật xấu gia tăng. Các bậc
Hiền triết thường dạy rằng đạo thoát khổ không lần lựa ngày giờ, không hẹn mai
hay mốt, mà phải cấp tốc thực hành.
Vua Milinda châm biếm Ðại
Ðức Na Tiên khuyên người giữ giới để tránh gây ra nghiệp dữ:
"Bạch Ðại-Ðức, tại sao
Phật-giáo lại dạy các tín-đồ cần phải cẩn-thận giữ mình trước khi xảy ra điều
ác? Như vậy phải chăng các Ngài muốn vẽ vời ra cho có chuyện?"
Ðức Na Tiên hỏi lại:
"Tâu Ðại-Vương, còn tại sao
Ðại-Vương lại cho đào hào, đắp lũy trước khi giặc đến bên thành? Tại sao Ngài
ra lệnh cho dân quê đào giếng trước khi hạn hán?"
Tư cách trong sạch thanh cao,
dũng tâm bền chí là điều kiện tiên quyết cho người, muốn bước chân vào đạo. Kẻ
ích-kỷ, cống cao chẳng mong gì tiến hóa và ân-huệ thiêng liêng chỉ được ban bố
đến những ai lòng dạ chân thật nhiệt thành.
Trạng thái giác ngộ không phải
là một triết thuyết có thể giải thích bằng danh từ hay ngôn ngữ, mà là trình độ
viên mãn cần phải đạt thành bằng công phu kiên nhẫn trong nhiều đời nhiều kiếp.
Muốn trở thành bậc Siêu-nhân, cần gội rửa thân tâm đúng theo nhân cách. Hoa
thơm trái ngọt không thể sản-xuất từ vùng đất cằn cỗi, đá sỏi đầy cỏ dại.
Công phu thiền định nhọc nhằn
liên tục là phương thức để cải hóa con người từ hạ tiện trở thành cao cả, đưa
lần tới khả năng thấu triệt vấn đề nhân-loại khổ đau. Chúng ta phải chọn giữa
hai con đường đưa về cõi sống và cõi chết. Không thể chú tâm cùng một lúc về
thế sự và con đường thánh thiện. Như vậy chẳng khác nào người đứng hai chân
trên hai chiếc thuyền bị giòng nước cuốn đi và phải sẩy chân chìm xuống đáy.
Muốn sống trong đạo đức, ta phải
thường xuyên kiểm soát vận hành của tư-tưởng và các phản ứng do ngoại cảnh đưa
vào. Mỗi con người sanh trên cõi thế, khi chưa liễu đạo đều mang theo các chủng
tử tai hại: Tham lam, Sân hận, Si mê. Có người Tham nhiều, Sân ít hoặc tối Mê
sân-hận mà không Tham cũng có. Nhưng ít ai để ý đến bản tánh của mình và lắm
lúc lại tìm cách bào chữa cho tật xấu, nói cần phải làm vậy để tranh đấu với
đời, vì mình con đang sống giữa giòng đời, khôn mới sống, dại thì chết.
Khi tâm trí còn mơ mộng, còn bị
lớp sương mù che phủ, thì đạo giải thoát hãy còn xa. Quan sát kỹ cái tâm, cho
thấy chúng ta không có lý-tưởng nhất-định. Tất cả đều mờ mịt, xung chướng,
khắc-khe. Những trạng thái đó theo nhau vây hảm phỉnh gạt, khuấy rối, cản ngăn
bước tiến cho rằng hạnh phúc tinh thần không quan trọng bằng thú vui trần tục.
Lẽ đó hành giả phải có nhiều nghị lực nhẫn nại tập trung ý chí vào hoài bảo của
mình, quyết tâm đi tới mục đích cuối cùng. Cũng như Ðức-Phật thường ví hành giả
trong Phật giáo như anh chiến sĩ ngoài mặt trận thì mới mong thắng nỗi trận
giặc lòng. Chỉ có sự kiên chí thực hành thì mới tìm ra lối giải thoát.
Từ thiên vạn cổ, nhân loại không
ngớt tìm kiếm cái trạng thái viên mãn tột cùng, bằng cách thu thập nhiều kinh
nghiệm, ký ức, kiến thức, cố suốt thông nhiều học thuyết siêu hình, nhiều luận
đề hấp dẫn, nhưng cũng không sao thoát khỏi thế gian. Ðức-Phật nói càn khôn vũ
trụ có thể vượt bằng thần thông. Nhưng khó lòng thoát khỏi cái thế giới nhỏ hẹp
là thân xác con người, là sanh tử, khổ đau, trừ phi chuyển hóa được tư-tưởng để
tách rời bản ngã với tứ đại giả hiệp, phá sập cái nhà Ngũ-uẩn không trường tồn
này.
Dứt bỏ - Ðơn giản hóa cuộc sống tự do
Ðức Vua Bhadhya tham
Thiền dưới cội cây phát tâm thỏa thích hô to:
"Hạnh phúc thay! Hạnh phúc
thay! Khi ngự tại hoàng-cung, có cung lính hầu hạ, tường thành kiên cố, nhưng
ta nào đâu yên giấc. Hiện nay ta chẳng còn lo sợ gì cho bản thân và cuộc sống.
Bất cứ ở nơi nào ta cũng được tự do yên ổn." (Majjhima Nikãya)
Ông Hoàng Mahãnãma đến
than phiền với Ðức-Phật, nói mình chưa diệt được phiền-não, Ngài đáp:
"Này Mahãnãma, đó là
do ngươi chưa chịu dứt bỏ nếp sống xấu xa hư hỏng trong gia đình. Vì ở nhà
ngươi mới tự do tham muốn, đòi chi được nấy. Còn rời khỏi gia đình ắt ngươi
không được ăn no nê theo sở thích." (Majjhima Nikãya)
Ngày nào chúng ta không chịu từ
bỏ nếp sống thường tình, vẫn còn tham lam, ích-kỷ thì không thể đạt được
Chân-lý một cách dễ dàng. Người đạo hạnh cần dứt tâm luyến-ái vật chất nhỏ nhen
để cảm thông với tất cả chúng-sanh. Ngoài tâm từ ái không thể tìm được cuộc
sống tinh thần siêu thoát. Chỉ có tư cách vô tư, bình thản mới có thể đưa người
lên đỉnh cao tột của tình thương với lối nhìn đứng theo thực tại.
Người hành thiền cần phải giữ
gìn thể xác khoẻ-mạnh để nâng đỡ đời sống tâm linh. Nhưng phải ăn uống có điều
độ, tránh các món kích thích khó tiêu hoá. Không nên ăn quá no, không nên quá
chìu xác thân, luyến ái sắc trần thường phát sanh mạnh với người bệnh hoạn, làm
trở ngại công phu hành đạo. Lẽ đó cần giữ cơ thể luôn luôn tráng kiện.
Vậy trước khi bước vào giai đoạn
thực hành, ta cần thanh lọc thân tâm, giản dị nếp sống, loại trừ các điều quá
dính mắc về xác thân trước.
"Hỡi nầy các thầy Tỳ-Khưu!
Khi thửa vải bị hoen ố rồi, người thợ nhuộm đem nhúng vào nước xanh, nước đỏ,
nước vàng hay nước tím, nó cũng không ăn màu tươi thắm đẹp đẽ bao giờ.
Mà tại sao vậy?
- Vì thửa vải không sạch sẽ.
Cũng như thế ấy khi tâm tư ô
trược, thì cũng chẳng đạt được Chân-lý cao siêu, đạt được Trí-Huệ để đi đến sự
hoàn toàn Giác-Ngộ".
Người thiếu nhân cách, tâm trí
chứa đầy tham vọng, còn say mê theo Sắc Dục, thì không thể tu Thiền Ðịnh được.
"Giới-tử ví như thớt voi
rừng, bị người thợ săn bắt đem về giao cho tên nài khiển tập. Lâu năm chầy
tháng nó quên hẳn tánh dã man nơi rừng rú trở nên dễ dạy và được Ðức-Vua trọng
dụng thế nào! Cũng như thế ấy, thầy Tỳ-Khưu buộc chặt mình vào bốn cây trụ niệm
tưởng của Pháp môn Tứ-Niệm-Xứ, vất bỏ các tật xấu xa của người Thế-tục, thoát
ly ra khỏi dục vọng trần gian, không còn buông lung ngoan cố, trở nên khả ái
dịu hiền, an vui vắng lặng trong đạo quả Niết-Bàn". (Majjhima Nikãya
III - 243)
Muốn sáng tạo trong lãnh vực tâm
linh, điều cốt yếu là con người phải làm cách nào cho thân tâm mình được hoàn
toàn tự do, ra ngoài mọi trói buộc. Thiếu tự do thì chẳng thể thấu rõ đâu là
Chân-lý, đâu là lầm lẫn. Không tự do thì cuộc sống trở nên cạn cợt, chẳng có
mục đích, lý tưởng. Người thiếu tự do hằng lệ thuộc mọi ảnh hưởng, mọi áp lực
do gia đình, tài sản, bạn bè, xã hội, sự sống chết... Vậy cần phải rèn luyện
cách nào để chuyển hóa tư-tưởng khác hẳn thường lệ hầu khai mở một tâm thái
trong đó chẳng còn sợ hãi, ước mơ, tham muốn. Chính sự tích lũy đủ loại kiến
thức, đủ thứ học thuyết và tật hay phê phán, xét đoán những việc vô can, làm ta
mất tự-do. Tự do thật sự chỉ ở trong con người thanh bạch, có nếp sống giản dị,
ngây thơ như đứa trẻ, không dính mắc trong khao khát dục lạc, không bị trói
buộc bởi bất cứ việc gì.
Tư cách dứt bỏ để sống cuộc đời
tri túc, cũng là điều kiện tối cần để đưa người vào nếp sống tự do. Dứt bỏ cũng
là nguyên nhân đem lại tình thương cao cả. Ðức Bồ-Tát Sĩ-Ðạt-Ða xa lìa tất cả,
đi tìm phương thuốc cứu nguy cho nhân loại. Ngài bất chấp hiểm nguy dám chống
lại cổ tục sai lạc, để cứu nhân loại ra khỏi sự ràng buộc. Ngài chú nguyện:
"Mong sao tất cả sự bất an khốn khổ, tất cả những ngang trái, bất bình hãy
đến cho ta! Miễn sao cho chúng-sanh khỏi khổ".
Các bậc Hiền-triết quý trọng tự
do hơn mạng sống của mình, chẳng để thế lực nào uy hiếp, không chú trọng tiền
tài danh lợi, sống đơn giản nhưng vô cùng hạnh phúc.
Năm 326 trước Tây lịch, Ðại đế Alexandre
xứ Hy-Lạp, xua quân vào Ấn-Ðộ. Khi tới xứ Taxila thuộc miền Bắc Ấn, Ngài
nghe nói tại đây có một số hiền giả tu hành ẩn dật nơi rừng núi, sống thiếu
thốn, nhưng là những nhà bác học uyên thâm, có nhiều phép lạ, đoán được
tư-tưởng con người và được dân chúng tôn sùng hơn vua chúa. Ðại-Ðế liền sai
viên võ quan Onesicritos mang nhiều lễ vật vào tận rừng sâu, tìm cho ra
một nhân vật phi thường như vậy đưa về kinh-đô Macédoine làm cố vấn cho
mình. Nhưng vị đạo-sĩ khước từ và nói: "Xin đại quan trở về tâu lại rằng
bần đạo rất cảm kích sự chiếu cố của Hoàng thượng. Nhưng các bảo vật Ngài ban
cho bần đạo cũng bằng thừa, vì bần đạo chẳng thiếu thốn chi cả. Ðây là mớ cỏ
khô, trải thành chiếu giường êm ái, những lá cây chầm lại làm áo quần cho lão che
nắng che mưa, rễ trái trong rừng thừa thải để nuôi mạng sống, gần bên là con
suối trong mát giúp lão đỡ khát khi cần. Như vậy đủ lắm rồi".
Viên võ quan dọa dẫm: "Nếu
Ngài không tuân lệnh, Ðức-Vua sẽ trừng trị nặng nề và có thể nguy đến tánh
mạng?"
Ðạo-sĩ mỉm cười đáp: "Nếu
được vậy càng tốt. Mỗi ngày bần đạo luôn luôn tham thiền về cái chết và chẳng
thiết tha gì với kiếp sống. Nhà vua giết lão là ban ân huệ cho lão rãnh nợ
đời!"
Người tự do tuyệt đối là kẻ đã
thấu triệt chân-lý, về mối tương quan giữa mình và vạn vật, đã hủy-diệt
bản-ngã, không còn bị mảy may gì ràng buộc hay khống chế nữa.
Tự do là thong thả theo sở thích
theo sở kiến của mình, không tùy theo kẻ khác. Dù được người giúp đỡ thành đạt,
mình cũng vẫn nô lệ cho kẻ thi ân. Sống theo hoàn cảnh địa vị của mình là tự
do. Sống theo điều kiện của người là nô lệ. Hành động theo thế này hay thế khác
để được tự do, đó là tự do giới hạn. Chỉ có bậc Hiền-triết tâm tư vắng lặng,
không rung động là tự do thật sự.
Vui với đạo
Một việc làm miễn cưỡng hay do
áp lực, không sao được hoàn hảo. Người tu cũng thế, nếu có can đảm rời bỏ cuộc
đời thế tục, thì cũng cần có đủ nghị lực tạo cho mình một niềm vui trong đạo
đức.
Nhưng rất ít người thực tâm
thích thú với cuộc sống cô-đơn giản-dị, biết ý thức lợi ích tối cao của đời
phạm hạnh. Vào tu rồi họ vẫn mang theo nhiều nết hư tật xấu của đời, cũng còn
ích-kỷ, tham lam, sân-hận. Vì đó mà chính giáo phải suy bại lu mờ.
Ðời Phạm hạnh không phải để cho
quãn đại quần chúng, mà được dành riêng cho những ai có dũng tâm và các điều
kiện thuận tiện tức những kẻ hữu duyên. Trong một số người, họa may mới có vài
người mà tâm tư luôn hướng về nếp sống đạo đức, mong tìm được chân-lý tối cao.
Về khoa Thiền định, phần đông
hành-giả sau một thời gian hăng-hái công phu rồi đứt gánh, bỏ cuộc giữa đoạn
đường dài. Trong trường hợp này Ðức Thế Tôn có thuyết: "Chừng nào thầy
Tỳ-Khưu biết bảo dưỡng đức tin kiên cố, chừng đó người vẫn tiến hóa chứ không
thối chuyển". (Samyutta Nikãya)
Ðể khỏi chán nản, hành giả phải
suy nghĩ liên tục về những trạng thái mộng ảo của thế gian, về những Ân-Ðức
Tam-Bảo và phước báu được sanh làm người tu Phật.
"Khi nào các thầy Tỳ-Khưu
năng quán tưởng về tuớng Vô-Thường của vạn-vật, khi đó người sẽ tiến hóa chứ
không thối chuyển.
Khi nào các thầy Tỳ-Khưu thường
quán tưởng về tướng Vô-Ngã của các Pháp, khi đó người sẽ tiến hoá chứ không
thối chuyển.
Khi nào các thầy Tỳ-Khưu hằng
chú tâm về các điều tai-hại của Ngũ-Trần, cố xa lánh việc dữ, nhớ đến nguy cơ
của tội-lỗi, rán dứt bỏ tham-vọng Thế-gian, không muốn tạo nghiệp, khi đó người
sẽ tiến hoá chứ không thối chuyển". (Anguttara Nikãya II - 23)
"Hỡi này các thầy Tỳ-Khưu!
Ðây là hai điểm quan trọng, mà người xuất gia cần phải ghi nhớ:
- Không nên Tự Mãn về thành Quả
đã đạt được.
- Không ngừng Phấn Ðấu để đi tới
Mục đích cuối cùng.
Hỡi này các thầy Tỳ-Khưu! Trong
trường hợp này, khi hãy còn là một vị Bồ-Tát, Như-Lai thường nghĩ như vầy: Ta
rất toại dạ vui lòng, dù thân xác phải rã rời, dù huyết quản phải khô cạn, nếu
còn chút nghị lực, ta vẫn quyết tâm chiến đấu để thành đạt những pháp cao siêu
mà con người có thể thành đạt.
Hỡi này các thầy Tỳ-Khưu! Vì
quyết tâm như thế. Ta đã đi tới giác ngộ và đã thoát khỏi vòng nô lệ. Vậy các
người cũng nên kiên trì tâm trí như vậy dù phải thịt nát xương tan, huyết quản
khô cạn, cũng không để các Thiện Pháp giảm suy". (Samyutta Nikãya II -
27-29)
"Như-Lai không cho rằng đạo
quả có thể thành đạt trong khoảnh-khắc, mà chỉ đến sau thời gian công phu, khó
nhọc không thối chuyển, sau tiến trình Ðạo đức được triển khai từng giai đoạn.
Trong điều này, một người nọ,
tìm đến nghe giáo pháp, rán ghi nhớ nằm lòng, nhận xét giá trị của Ðạo lý rồi
phát tâm thỏa thích. Sau khi cân nhắc lợi hại, phải quấy và niềm ước vọng cao
siêu phát sanh trong trí não, người đó liền cố gắng thực hành và khi có tâm quả
quyết như thế, người đã bắt đầu bước lên đường giác ngộ". (Anguttara
Nikãya)
Thầy Tỳ-Khưu cần giữ tinh thần
vắng lặng, thu thúc lục căn, đó là tấm gương Ðạo hạnh, Ðức-Phật thuyết:
"Này Xá Lợi Phất, người nên
suy nghĩ như vầy: Ta phải làm cách nào cho giác quan yên lặng, cho tâm trí yên
lặng?
Này Xá Lợi Phất, mà tại
sao vậy?
Vì khi nào giác quan yên tĩnh,
thì những hành động do khẩu, do ý cũng yên tĩnh thanh cao?
Rồi người nên nghĩ thêm: Thực
hành được như vậy, ta đã ban bố cho những bạn đồng hành một món quà quí báu,
một tấm gương đạo hạnh tuyệt vời". (Anguttara Nikãya - 331-332)
"Hỡi này các thầy Tỳ-Khưu!
Trên cõi đời này, có nhiều thắng cảnh ngoạn-mục, nào là đền đài, huê-viên,
công-trường, đồng quê bát-ngát, hồ nước trong veo. Nhưng còn nhiều vô số kể là:
Non cao nguy hiểm, rừng vắng hoang vu, hố hang rùng rợn,... Thì như thế ấy, rất
ít chúng-sanh được mang kiếp người, còn nhiều vô số kể thọ sanh vào những cảnh
giới khác. Ðược sanh làm người rồi, rất ít có kẻ thông minh, đạo đức, còn quá
nhiều người tối mê, lầm lạc. Lại rất ít người được nghe Giáo Pháp, chăm chỉ
thực hành để sống theo đạo đức, còn nhiều kẻ khác không làm như vậy. Rất ít
hành-giả được nếm hương vị giải-thoát và rất nhiều còn dính mắc trong vòng phàm
tục". (Vinaya - I - 8)
Cõi trời Phạm-Thiên và Vô-Sắc
chưa phải là mục đích cuối cùng. Phần lớn tôn giáo trên Thế giới chủ trương các
cõi trời là những nơi an-nghĩ hoàn toàn hạnh phúc. Ðức Bồ-Tát Sỉ-Ðạt-Ta đã đắc
bốn bậc Thiền Vô-Sắc khi theo học với hai thầy Ðạo-sĩ Alara, Uddaka,
thấy rằng với thiền này chưa diệt tận bản ngã, chưa chấm dứt nguồn sanh tử, nên
đã rời bỏ hai thầy đi tìm đạo một mình.
Ðức-Phật khiển trách Ðại-Ðức
Xá-Lợi-Phất, dạy một người Bà-La-Môn phương thức hành đạo để lên tới cõi trời
Phạm Thiên (Brahma):
"Này Xá-Lợi-Phất, tại sao
ngươi chỉ dạy người Ba-La-Môn đó cách thức để lên cõi trời sắc giới thôi! Vì đó
chưa phải là giải thoát. Còn rất nhiều việc phải làm mới đi tới mục đích cuối
cùng". (Samyutta Nikãya - 100)
Gần Gủi Bạn Lành
Giao du với bạn-bè cũng là yếu
tố quan-trọng đối với người tu Thiền Ðịnh. Người bạn có thể là ông thầy dìu-dắt
mình trở nên cao- thượng mà cũng có thể trở thành kẻ xấu-xa, xô mình xuống vực
sâu.
Ðứa trẻ bắt đầu cuộc sống giữa
cha mẹ, anh em và chịu ảnh-hưởng của gia-đình. Khi lớn lên, vào lớp nhờ sự
dạy-dỗ của thầy và ảnh-hưởng tánh-tình của bạn-bè. Lúc thành nhân được gia-nhập
vào sinh-hoạt xã-hội, phải giao-dịch với nhiều giới quen thuộc, thu-thập được
nhiều kiến-thức, kinh-nghiệm tình-cảm của những kẻ bao quanh và thâm nhiễm
nhiều tật xấu có, tốt có.
Bạn lành về phương diện đạo-đức,
không phải ám chỉ mối tương giao huynh-đệ, cư xử đúng cách giữa những con người
vì quyền lợi hay tình-cảm, mà là những Thiện trí-thức đồng lý tưởng với mình có
nếp sống thanh bạch, giàu kinh-nghiệm tâm-lý và nhất là có tâm thỏa-thích hành
đạo, có thể giúp đỡ, nhắc-nhở ta trên đường Thánh-Thiện. Ðức-Phật thuyết:
"Người Thiện trí-thức là
người không làm mười điều ác, có tâm từ ái, không tà-kiến là người thấu rõ
lợi-ích của các nghiệp lành trong kiếp hiện tại và vị-lai". (Dhammapada)
Ðức-Phật rất ngợi khen sự
thân-cận các bạn lành, cho đó là nguyên do đưa tới đạo-đức thanh-bạch.
"Hỡi này các thầy Tỳ-Khưu!
Cũng như bình minh báo hiệu mặt trời sắp lố dạng, tình thân hữu với người thiện
trí-thức báo hiệu bảy nhân làm phát sanh trí-tuệ (Thất Giác Chi) sẽ đến với kẻ
tu hành". (Samyutta Nikãya V-101)
"Này Xá-Lợi-Phất, quả đúng
như vậy! Thân-cận bạn lành là điều kiện tối cần của đời sống Phạm hạnh. Thầy
Tỳ-Khưu nào, thường hay tìm gặp các Thiện trí-thức, có nhiều hy-vọng làm phát-triển
con đường Siêu-Việt (Bát Chánh-Ðạo) và nhờ đó, từ là nạn nhân của những thảm
họa Sanh, Già, Bệnh, Chết, người khỏi khổ đau, than-van thất-vọng". (Samyutta
Nikãya)
Ít Bận Rộn
"Bậc Thánh-Nhân gọi con
người luôn luôn bận việc, hết buông cái này thì bắt tới cái kia, dù có lợi ích
hay không là kẻ náo động, tâm trí bôn chôn xao-xuyến như con khỉ nhảy-nhót
không ngừng và đó là trở ngại lớn cho người hành-đạo. Một Thiền-Sư nói chẳng
thà đi ngủ còn tốt hơn bận rộn vô-ích".
Lần nọ, Ðức-Phật đi kinh hành
đến gần Tịnh-xá gặp Chư-Tăng đang họp nhau bàn-luận về Ðạo-Ðức, Ngài khen ngợi:
"Này các thầy Tỳ-Khưu, vậy
mỗi khi các ngươi hội-họp với nhau, tốt hơn là bàn về giáo-lý, nếu không thì
nên giữ sự yên-lặng thanh-cao. Suy tưởng về các Pháp". (Majjhima Nikãya)
Người hành đạo cũng bận rộn
nhưng bận rộn lo tham thiền nhập định, bận rộn để hủy diệt phiền-não.
Tránh Xa Tình Dục và Giữ Tâm Chân Thật
Tình dục kích-thích mạnh-mẽ giác
quan, khuấy động tâm trí, làm cho con người thường tối mê, điên-đảo, không sao
tiến hóa trong việc tu-hành. Nhà hiền triết Ramakrishna gọi người phụ nữ
là Mẹ. Bà vợ được cha-mẹ cưới cho lúc chưa đầy mười tuổi, theo phụng sự ông
suốt thời-gian 30 năm nhưng hãy còn trinh triết.
Nết hạnh chân-thật cũng rất
thiết yếu đối với người hành đạo. Không những thành-thật đối với tha nhân, mà
tốt nhất là phải chân-thật với chính mình. Trong mỗi giờ, mỗi phút người nên
dòm xét bản-thân, để tẩy trừ các nết hư tật xấu, những ý nghĩ tà vạy, những
tham-vọng vô bờ bến. Phải có can-đảm chấp nhận lỗi mình trong bất cứ hoàn cảnh
nào. Ðức-Phật dạy rằng con người từ lúc mới chào đời đã mang theo tội-lỗi. Vì
phải gánh lấy xác thân tạo thành bởi cái tâm tham sống từ kiềp trước.
Người không thể chân-thật nếu
hằng ngày vẫn lo dòm ngó lỗi người, chỉ trích, phê-phán. Phương ngôn có câu: Người
hay chỉ trích chính là kẻ đáng chỉ trích nhất.