Thể loại sách khác
Đạo Phật Hiện Đại Hóa
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin
09/10/2554 07:20 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

 

Chương 6. Những dòng tu Tiếp Hiện

 

 

Trong chương II, chúng tôi đã có dịp nói về mục đích của những tăng sĩ trong các tu viện dòng Thể Nhập: đó là mục đích chứng ngộ để khơi mở nguồn đạo đức vô hành cho cuộc đời. Để có thể đạt được mục đích cao cả ấy, các tăng sĩ trong dòng Thể Nhập cần có khung cảnh và phương tiện thích hợp. Phải có những điều kiện trí tuệ, tâm lý và sinh lý thích ứng, phải cương quyết và chín chắn, và ít ra cũng phải tới tuổi ba mươi mới có thể trở nên một nhà tu Thể Nhập. Trong hiện thời, ta thấy số lượng những tăng sĩ có điều kiện và ý chí như thế không to tát lắm. Bốn mươi năm cố gắng cũng chưa đưa tăng giới Việt Nam ra khỏi danh sách tình trạng suy đồi. Mục đích chính là tu chứng không được trọng thị nữa, và đa số trong tăng giới sống vì mục đích duy trì và thỏa mãn những nhu yếu tín ngưỡng cho quần chúng và cho chính mình. Thực ra đạo Phật không phải chỉ xuất hiện vì một mục đích đó, như chúng ta thấy. Đạo Phật còn phải làm sứ mệnh xây dựng cho sự sống, thiện hóa và mỹ hóa sự sống. Do đó ta thấy nếu không có một sự cải đổi, nếu không có một công trình lột xác cho tổ chức, nói tóm lại nếu không hiện đại hóa đạo Phật, thì đạo Phật không thể làm trong được sứ mệnh ấy. Mà tâm điểm của công trình hiện đại hóa là cách mệnh giáo chế, với mục đích gạn lọc những gì đã có và mở cửa sáng tạo những gì cần thiết mà chưa có. Sự trang bị các tu viện Thể Nhập và chỉnh lý giáo chế về giới xuất gia Thể Nhập có công dụng gạn lọc ấy, trong khi đó sự thành lập những dòng tu Tiếp Hiện theo giáo chế được hình thành căn cứ trên nền tảng tinh thần đạo Phật chính là công cuộc sáng tạo những gì cần thiết mà chưa có. Ta thấy công việc thứ hai này phải được thực hiện song song với công việc thứ nhất, công việc mà chi tiết đã được trình bày trong Chương II nói về những tu viện Thể Nhập. Trong giáo chế mới, sẽ có sự hiện diện của giới trí thức, thanh niên và văn nghệ sĩ trong hàng ngũ những người có bổn phận và trách nhiệm chính về vấn đề duy trì và phát triển đạo Phật. Có sự hiện diện của các giới ấy thì đạo Phật mới có thể thực sự đi vào cuộc đời.

 Trong một cuộc trưng cầu ý kiến giới thanh niên trí thức Phật tử về vấn đề hiện đại hóa đạo Phật được thực hiện cách đây không lâu, hầu hết những người được phỏng vấn đều cho biết rằng người thanh niên trí thức và văn nghệ sĩ hiện chưa có chỗ đứng thực sự trong đạo Phật. Chưa có chỗ đứng thực sự trong đạo Phật. Chưa có chỗ đứng không phải là vì giới lãnh đạo Phật giáo không muốn họ có một chỗ đứng, mà vì giáo chế hiện thời không còn khế cơ với họ nữa. Chính nhiều vị trong giới tăng sĩ, tỳ khưu giới và sa di giới, cũng công nhận rằng giáo chế không còn thích hợp với bản thân họ. Nhận thức rằng giáo chế không còn khế cơ, nhưng không ai có can đảm đề cập đến vấn đề chỉnh lý giới luật và cách mệnh giáo chế cả.

Trong bản trưng cầu ý kiến trên, có một câu hỏi như sau: Có bao giờ anh (hay chị) có ý tưởng xuất gia để phụng sự lý tưởng Phật giáo không? Nếu có, tại vì sao? Nếu không, tại vì sao? a/ Tại vì nếp sống ấy khổ hạnh quá? b/ Tại vì nếp sống ấy không phù hợp với điều kiện sinh hoạt lý trí tình cảm của anh (chị)? Trong số ba trăm người, chỉ có tám người trả lời là có. Lý do: nếp sống xuất gia có điều kiện phụng sự nhiều hơn. Còn tất cả những người còn lại đều trả lời không, và đều nêu lên lý do thứ hai: vì nếp sống xuất gia không phù hợp với họ. Trong số đó, có những người khi trả lời về một câu hỏi liên hệ đến giới xuất gia, đã than phiền về hiện tượng thế tục hóa của người tăng sĩ và đòi hỏi các vị tăng sĩ phải sống như những bậc thánh xuất tục.

Sự kiện người thanh niên yêu mến đạo Phật và muốn đem tất cả kiến thức và đời sống của mình để phụng sự cho đạo Phật nhưng không thấy nếp sống xuất gia hiện thời phù hợp với mình, là một sự kiện cần được chú trọng. Ngày hôm nay không có họ trong hàng ngũ người tăng sĩ thì ngày mai sẽ không có họ trong hàng ngũ những người lãnh đạo cho Giáo hội. Để đi đến một nhận định rõ rệt về những gì ta phải thực hiện trong phạm vi cách mệnh giáo chế, ta hãy nhìn lại giới xuất gia trẻ tuổi hiện tại. Người học tăng có mặt trong giai đoạn hiện tại của lịch sử Giáo hội là một hiện tượng cần phải nghiên cứu với tất cả công phu và ý thức. Họ là những người đã được nuôi dưỡng vào khoảng từ năm tới mười lăm năm nay trong không khí ngột ngạt của giới xuất gia, luôn luôn vươn lên để tìm lấy một lối thoát - lối thoát để vượt tới một giáo chế thích hợp với những điều kiện trí tuệ và tâm lý của họ. Giới học tăng là giới tăng sĩ trẻ tuổi, can đảm. Họ thấy giáo chế hiện hữu không thích hợp với họ nữa và họ luôn luôn tỏ ra rằng họ không được đứng đúng chỗ của họ. Người học tăng bây giờ thực ra không có chỗ đứng; tuy rằng mặc chiếc áo nhật bình ấy và sống với giới luật ấy nhưng họ tự nhìn họ như nhìn một người xa lạ. Chúng tôi biết là chỉ có giới học tăng mới thấy rõ những điều trên đây. Nếu trong xã hội hiện tại, giới thanh niên có cảm giác bơ vơ lạc lõng thì trong giáo chế hiện tại, người học tăng cũng thấy bơ vơ lạc lõng và không nhận ra được chân dung của chính mình. Người học tăng cũng mang những tâm trạng chung của người thanh niên thời đại, nhưng đau khổ hơn người thanh niên thời đại ở chỗ người học tăng còn mang thêm một mặc cảm - mặc cảm của người không được thành thực với chính mình, bởi vì người học tăng đang tự khép hoặc đang bị khép trong một giáo chế mà mình biết rõ là không thích hợp với chính mình.

Thế ai bảo họ đi xuất gia làm chi để rồi thấy giáo chế không thích hợp? Mọi người sẽ hỏi. Trả lời câu hỏi đó tức là kể một câu chuyện dài. Phần lớn họ đã vào chùa từ khi còn nhỏ, trong đó lý do ưa thích là quan trọng hơn cả. Ưa thích nhưng thiếu hẳn nhận thức. Họ không biết rõ nội dung nếp sống xuất gia. Lớn lên họ thọ giới sa di, rồi tỳ khưu, nhưng họ không được biết trước nội dung của giới luật. Trước khi thọ giới thì hăng hái, nhưng vài ba năm sau phần lớn đều nhận ra rằng giáo chế không thích hợp với họ. Có những cậu bé cô bé thích vào chùa ở, vì mến các thầy hoặc mến các ni cô. Lớn lên họ trở thành học tăng, hay học ni, dầu muốn hay là không. Hiện tượng cũng giống như hiện tượng tảo hôn của ta ngày xưa. Nhưng cậu bé cô bé khi lớn lên thì thấy mình đã có vợ hay có chồng rồi, và không thể nào làm khác hơn. Tai hại nhất là các “điệu” tập sự tại các chùa hội, nghĩa là những chùa dùng làm trụ sở cho Giáo hội tỉnh, quận, v.v… Các điệu không được học tập theo lề lối ở các tu viện. Chỉ được học hai buổi công phu, rồi để hầu hạ các thầy trụ trì, rót nước, mời khách. May mắn thì được cắp sách đi học mỗi ngày một buổi ở trường tiểu học. Ngoài ra, thì giờ để đi công phu, quét tước, dọn dẹp và để bị sai vặt. Thức kkhuya, dậy sớm, kham khổ. Ngày ngày (nhất là rằm, mồng một và các ngày chủ nhật) chú điệu chỉ thấy những người ăn mặc đẹp đẽ tới chùa và rất thích nếp sống ca hát trẻ trung của các đoàn viên nam nữ của tổ chức Gia Đình Phật tử. Chú điệu không biết rằng khi tới chùa thì người ta đã bỏ lại nhà những bực dọc, gắt gỏng và nghèo nàn mà chỉ đem theo những chiếc áo tươm tất, những nét mặt vui tươi mà thôi. Như các em thiếu nhi nam nữ trong Gia Đình Phật tử chẳng hạn. Có nhiều em chỉ tỏ vẻ sung sướng, ăn mặc đẹp đẽ và ca hát tươi vui ở chùa mà thôi, chứ về nhà cũng ăn mặc xấu, làm việc cực nhọc, bị cha mẹ gắt gỏng vì đủ lý do trong đó có lý do nghèo túng, lười biếng, bừa bãi v.v… Cho nên chú điệu, chỉ trông thấy mặt đẹp của cuộc đời, cứ nuôi ảo tưởng rằng cuộc đời là rất đẹp, so với đời sống cực khổ trong chùa. Thêm vào đó, nếp sống tu học không được chăm lo, trông thấy những phiền toái của tổ chức, chú điệu mất dần đức tin. Lớn lên, chú mặc áo nhật bình và chịu khuôn khổ của nếp sống xuất gia, lòng vẫn hoang mang. Lý tưởng cũng như tương lai rất là mịt mờ, trong khi hiện tại là một nếp sống bất đắc dĩ không thể thoát ra được. Tại sao không thoát ra được? Lý do thứ nhất là vì chú còn thương đạo Phật và nghĩ rằng đạo Phật là một lý tưởng đẹp nhất trên đời, chỉ vì chưa có sự hướng dẫn và tổ chức hợp lý nên nếp sống bây giờ chưa có nẻo thông về lý tưởng ấy đấy thôi. Nghĩ như thế, người học tăng cứ chờ đợi, nhất là chờ đợi ở các bậc lãnh đạo Giáo hội. Nhưng chờ mãi không thấy gì, từ một năm, hai năm, cho đến mười năm, mười lăm năm. Những người chờ lâu quá đã chán nản, đã mất đức tin - mất đức tin nơi khả năng của Giáo hội chứ không phải mất đức tin nơi đạo Phật. Chúng tôi biết có nhiều học tăng xuất sắc nhưng hiện đã mất đức tin. Họ sống với chiếc áo nhật bình nhưng họ là những người bất đắc chí, chỉ đi dạy học cho qua ngày. Ra đời thì họ không muốn ra, bởi vì hoặc họ đã biết rõ rằng cuộc sống ngoài đời cũng tầm thường không có gì lạ, hoặc họ sợ mang tiếng là những người tu nửa chừng lỡ dở. Đây chính là lý do thứ hai.

Phải công nhận rằng người học tăng đã khổ đau nhiều, và sự thất vọng đã khiến cho một số ít trở nên bừa bãi, bất chấp luật lệ và dư luận. Lỗi những người này không phải là hoàn toàn do họ mà là do tất cả mọi người. Nếu ai từng theo dõi người học tăng trong hai mươi năm nay sẽ cảm thương vì sức phấn đấu và chịu đựng của họ. Những cơ sở tu học cho họ rất là thiếu thốn, hơn nữa không phù hợp với họ, không nhắm trực tiếp đến sự đào tạo họ mà lại nhắm đến những mục đích khác. Cho nên các Phật học đường đã bị tràn ngập cư sĩ và dần dần thế tục hóa. Sự dạy dỗ tổ chức chểnh mảng, các vị thượng tọa bận bịu trong tổ chức, người học tăng bỏ Phật học đường tìm cách ra học thêm ở các trường Trung học tư thục. Họ thất thểu đi xin chỗ ở, chỗ ăn, chỗ học. Lớp này bỏ Phật học đường, rồi đến lớp kia, bởi vì bất mãn với chương trình và nếp sống bên trong. Do đó, Phật học đường chỉ gồm có những lớp mới do các chùa gửi đến. Trong suốt hai mươi năm trường, học tăng ngoại trú đi tìm chỗ ở tại các chùa tư để có dịp học thêm vì biết rằng với kiến thức mà các Phật học đường hứa cung cấp (mà chắc không cung cấp được) họ không thể nào thực hiện được cuộc duy tân đạo Phật. Các chùa tu thì chú trọng đến việc cung cấp, ít biết nâng đỡ cho học tăng, giúp họ ăn học. Cho nên cuộc đời học tăng quả thực là bấp bênh và trôi nổi. Có một thiểu số giữ vững được tinh thần, học xong được cấp trung học, hay đại học. Đa số vất vơ vưởng, tiêu xài sức khỏe và mất dần đức tin ở thiện chí của các bậc lãnh đạo. Đã rất nhiều lần họ tập hợp lại để tổ chức thành đoàn thể nhưng bị nhận thức như là một tổ chức chống đối cho nên họ không được ủng hộ và do đó không thành công. Tuy sống khổ sở như thế và bị bỏ rơi như thế để đến nỗi đức tin hầu như bị phá sản, họ đã tỏ ra rất xứng đáng trong phong trào bảo vệ chính pháp. Sự học hành của họ hiện bị lỡ dở, không đến nơi đến chốn, chưa có dùng để phụng sự, trong lúc đó vẫn chưa có cơ quan nào do Giáo hội tổ chức để nâng đỡ họ và vạch cho họ thấy con đường tương lai của họ. Vào các tu viện theo kiểu một tu viện Thể Nhập như đã tả trong chương II, thì họ chưa đủ điều kiện kiến thức tâm lý và tuổi tác để vào, mà họ chắc chắn cũng chưa nghĩ đến. Đem kiến thức để phụng sự lý tưởng đạo Phật thì họ rất ước ao: nhưng kiến thức ấy họ đã đạt được đâu, mà nếu có một vài người đạt được thì thử hỏi họ sẽ phụng sự theo đường hướng nào, trong khi chính họ vẫn thấy rằng giáo chế hiện tại không thích hợp cho họ và cho ý hướng phụng sự của họ?

Cho nên Giáo hội trong công cuộc hiện đại hóa đạo Phật, một mặt phải tạo nên giáo chế mới thích hợp cho người thanh niên trí thức thời đại để họ có thể đem kiến thức của họ vào phụng sự cho lý tưởng đạo Phật, một mặt lập những cơ sở để giúp cho lớp học tăng học ni bây giờ đạt tới những kiến thức cần thiết để cho họ đủ điều kiện chấp nhận giáo chế mới ấy. Giáo chế mới này tạo ra những dòng tu mới gọi là những dòng tu Tiếp Hiện mà sinh hoạt tâm linh, tình cảm, giới luật và lý tưởng sẽ phù hợp với những người thanh niên trí thức của thời đại.

Giáo chế mới sẽ đóng vai trò quyết định sự thành công trong việc bảo vệ xây dựng và đề cao giá trị tu chứng của dòng tu Thể Nhập, đồng thời tạo nên thế hệ những người trí thức trẻ tuổi, hăng hái đem đạo Phật đi vào cuộc đời để xây dựng cuộc đời bằng lý tưởng từ bi và tự do. Bằng cách thành lập những dòng tu Tiếp Hiện, một mặt Giáo hội vạch ra cho người thanh niên tăng ni hiện thời một hướng tiến một nếp sống phù hợp với trí tuệ tình cảm họ, một mặt đưa người tri thức, văn nghệ sĩ và thanh niên vào hàng ngũ những người có trách nhiệm trực tiếp về sự tồn vong của lý tưởng đạo Phật. Không có những tu viện Thể Nhập, nguồn tu chứng sẽ khô cạn. Không có những dòng Tiếp Hiện, thì không có người đem đạo Phật vào cuộc đời hôm nay, và cũng sẽ không có người trong tu viện và trong giới lãnh đạo Phật giáo ngày mai.

Nếu trong giáo chế mới những nhà tu Thể Nhập là bậc thầy xuất thế của cuộc đời, xứng đáng với địa vị chúng trung tôn, thì những người tu trong các dòng Tiếp Hiện là những vị huynh trưởng thay mặt hướng dẫn cho cuộc đời về phương diện học tập và thực hành giáo lý đạo Phật. Họ là những người Anh, là những người Chị, thân thiết với cuộc đời, phụng sự cho cuộc đời, và do đó, có mặt trong mọi sinh hoạt của cuộc đời.

Muốn gia nhập dòng tu Tiếp Hiện, ít nhất họ đã vượt qua trình độ tú tài và học tập từ ba đến bốn năm chương trình B B.S. của trường Cao Đẳng Phật Học. Như thế khi tốt nghiệp, kiến thức cũng như kinh nghiệm của họ đã tạm đủ để phụng sự trong một dòng Tiếp Hiện. Họ sẽ được làm lễ thọ giới - giới luật của họ không phải là giới luật xuất thế, mà là giới luật nhập thế. Giới luật ấy là tâm giới – mang tính cách của bồ tát giới, biểu lộ tinh thần từ bi trí tuệ của đạo Phật, biểu lộ triết học hành động của đạo Phật. Giới luật ấy như sau:

1. Không được thờ làm thần tượng một chủ nghĩa một lý thuyết nào, kể cả những chủ nghĩa và lý thuyết Phật giáo. Những hệ thống giáo lý trong đạo Phật phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn mà không là những chân lý tuyệt đối.

2. Không được yên trí rằng những kiến thức mình hiện có là những chân lý bất di bất dịch để trở thành cố thủ và hẹp hòi. Phải luôn luôn học hỏi thái độ phá chấp và cởi mở để đón nhận quan điểm của kẻ khác. Phải suốt đời là một người tìm học.

3. Không được ép buộc người ta theo mình, bất cứ bằng cách nào. Phải tôn trọng tự do của kẻ khác.

 4. Không được trốn tránh khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của sự sống. Phải tìm tới những kẻ khổ đau.

5. Không được đặt một trong bốn thứ danh, lợi, tài, sắc làm mục tiêu chính của đời sống mình. Phải học hạnh tri túc để nghĩ đến kẻ khác.

6. Không được giữ tâm sân hận và oán thù. Phải quán từ bi để tha thứ cho tất cả những người gây nên tâm niệm sân hận và oán thù của mình, ngay sau khi tâm niệm ấy phát sinh.

7. Không được nói những lời có thể tạo nên sự bất hòa và tan vỡ trong đoàn thể. Phải áp dụng ái ngữ để hòa giải tất cả những vụ bất hòa, dù lớn hay nhỏ.

8. Không được nói dối để mưu cầu tài lợi và sự kính phục. Không được nói những lời gây chia rẽ, căm thù; không được loan truyền những tin mình chưa biết là có thực; không được phê bình và lên án những điều mà mình không biết chắc. Phải nói những lời chân thực và có giá trị xây dựng.

9. Không được sống một đời sống cách biệt quá với những kẻ khổ đau. Phải sống đời tri túc, giản dị nhưng không lập dị.

10. Không được lợi dụng đạo Phật. Phải giữ cho đạo Phật tính cách thanh cao tuyệt đối của lý tưởng đời mình.

11. Không được sống theo tà mệnh. Phải chọn những nghề nghiệp lương thiện, nhất là những nghề có thể giúp mình thực hiện được lý tưởng từ bi cứu khổ của đạo Phật.

12. Không được sát hại nhân mạng, không được tán thành sự chém giết. Phải tìm mọi cách có thể để bảo vệ nhân mạng.

13. Không được lấy làm tư hữu những tiền bạc và của cải bất hợp pháp. Phải bảo vệ quyền tư hữu của kẻ khác nhưng phải biết ngăn ngừa những kẻ làm giàu một cách bất lương và trên sự đau khổ của quần chúng.

14. Không được tà dâm, không có ý lợi dụng không trong sạch những người khác phái. Phải trong sạch và phải biết bảo vệ cho sự trong sạch.

Mười bốn giới vừa trình bày là quy chế cho một đời sống đạo đức lợi hành mà bất cứ người thanh niên trí thức nào muốn phát tâm đem trọn cuộc đời mình phụng sự cho lý tưởng đạo Phật cũng thấy thích hợp với họ và sẵn sàng chấp nhận.

Giới 1, 2, 3 và 4 thuộc về thái độ nhận thức phá trừ Si Mê, tiêu biểu được tinh thần phóng khoáng cao cả của đạo Phật. Giới 5 và 6 ngăn ngừa Tham Lam, Sân Hận. Sáu giới ấy ngăn chặn và phá đổ tam căn của Ý nghiệp (Tham, Sân, Si). Giới 7 và 8 thuộc về Khẩu Nghiệp, căn bản của Trung Tín, Thành Thực và Xây Dựng. Giới 9 và 10 và 11 quy định đời sống tri túc, thanh cao và lương thiện của lý tưởng hành đạo. Giới 12, 13 và 14 giữ gìn sự trong sạch của Thân Nghiệp. Đời sống được quy định bởi mười bốn giới ấy là một đời sống đẹp đẽ và tràn đầy tính chất Phật giáo.

Khi đã đủ các điều kiện tuổi tác (ít ra là 21 tuổi) kiến thức (tốt nghiệp cử nhân Phật học) giấy chứng nhận của gia đình, người thanh niên sẽ được làm lễ thọ giới Tiếp Hiện. Mỗi năm, người ấy sẽ trở về một tu viện Thể Nhập để học hành và tu tập trong một thời hạn 3 tháng để được võ trang lại chất liệu tâm linh của mình, nói một cách khác hơn, để tiếp nhận chất liệu đạo đức làm tâm linh và để trong chín tháng còn lại thể hiện lý tưởng đạo Phật trong cuộc đời. Như thế, những Anh và Chị tu trong các dòng Tiếp Hiện sẽ không tự đánh mất mình trong cuộc sống đồng sự và lợi hành.

Tùy theo khả năng mình, các Anh hay các Chị phát nguyện gia nhập trong các ngành hoạt động. Có dòng chuyên lo về giáo dục trong đó các Anh chuyên về dạy học. Có dòng chuyên về y tế, các Anh trong dòng có thể là bác sĩ, y sĩ, dược sĩ, y tá hay cán sự điều dưỡng. Có dòng chuyên về kinh tế trong đó các Anh có thể là những chuyên viên về kinh tế, những kỹ sư những cán sự Nông, Lâm, Súc hay hợp tác xã, những cán sự hướng dẫn việc thành lập các làng mới tại vùng cao nguyên trù phú. Có dòng chuyên về văn học nghệ thuật trong đó các Anh có thể là tác gia, xuất bản gia, âm nhạc gia, họa gia. Có dòng chuyên về giảng diễn và cố vấn giáo lý trong đó các Anh có thể là giảng sư, là tuyên úy cho sinh viên, học sinh, hướng đạo, quân đội. Có dòng chuyên về nghi lễ và tổ chức, trong đó các Anh có thể là chủ trì tự viện. Có dòng chuyên về kinh tài, trong đó các Anh có thể là những người chuyên tạo lập tài sản cho Giáo hội, để có thể cung cấp sự sống cho những dòng hoạt động khác. Cố nhiên là những Anh Chị tu trong các dòng Tiếp Hiện sẽ làm việc như những công chức cho Giáo Hội – công chức theo nghĩa thật đẹp – và sẽ nhận lương của giáo hội. Trong trường hợp chưa được phụng sự trong một cơ sở của Giáo hội, các Anh, Chị trong các dòng Tiếp Hiện vẫn có thể làm việc tại các cơ sở khác, miễn là mỗi năm vẫn có thể về được tu viện trong một mùa an cư.

 Sinh hoạt tâm linh và tôn giáo rất được chú trọng. Dù làm việc ở đâu, xa xôi tận đâu, những Anh Chị tu trong các dòng Tiếp Hiện đều phải về cơ sở Tiếp Hiện địa phương mỗi tháng hai lần để nghe thuyết giới và kiểm thảo. Mỗi tỉnh có một cơ sở Tiếp Hiện như thế. Mỗi sáng chủ nhật, các Anh Chị trong các dòng đều về sinh hoạt tại chùa nào gần nhất trong đó có ít ra là một vị chủ trì thuộc dòng Tiếp Hiện. Vị này, trong dòng chuyên về nghi lễ sẽ có bổn phận lo lắng không những cho Phật tử địa phương mà còn cho những Anh Chị của các dòng Tiếp Hiện đương phụng sự tại địa phương nữa. Thường thì các Anh Chị trong dòng Tiếp Hiện cư trú trong những cư xá Tiếp Hiện.

Trong những ngày giờ sinh hoạt tôn giáo, các Anh Chị trong dòng Tiếp Hiện có lễ phục đặc biệt của mình, dài và trang nghiêm nhưng không phải là Y. Y là để dành riêng cho dòng Thể Nhập. Nhưng trong sinh hoạt thường nhật, các Anh Chị có thể mặc y phục thường như mọi người. Trên y phục, bao giờ cũng có gắn một huy hiệu rất nhỏ màu trắng mang hai chữ Tiếp Hiện và bàn tay Phật chuyển pháp luân. Trong sinh hoạt thường nhật, người đời nhận ra các Anh Chị do huy hiệu bé nhỏ ấy. Cuộc sống đích thực phụng sự của những ai tu trong các dòng Tiếp Hiện sẽ làm cho mọi người cảm mến, và các Anh Chị phải làm sao để cho ai thấy dấu hiệu nhỏ bé đó cũng mến thương thì mới thành công.

Ít ra nhà tu Tiếp Hiện cũng phải phụng sự trong năm năm (mỗi năm về tu viện Thể Nhập ba tháng để tu tập) và cũng phải đạt đến số tuổi tối thiểu là ba mươi thì mới có thể xin thọ giới và vào tu viện Thể Nhập. Chỉ khi nào một Anh hay Chị tự hỏi lòng mình thật kỹ lưỡng và quyết chắc mình phải tu trong dòng Thể Nhập mới thích hợp với hoài bão mình, thì mới nên trở thành nhà tu Thể Nhập. Điều này rất quan hệ, và các tu viện trưởng sẽ xem xét thật kỹ lưỡng trước khi chấp nhận. Đó là trường hợp thứ nhất.

Trong phần lớn các trường hợp, các Anh Chị sẽ sống đời sống Tiếp Hiện cho đến khi nào nhu yếu tu học trong tu viện Thể Nhập trở thành hết sức rõ rệt. Họ có thể sống suốt đời trong dòng tu Tiếp Hiện. Đó là trường hợp thứ hai.

Trường hợp thứ ba là trường hợp một Anh hay Chị, cảm thấy nhu yếu kết hôn và thành lập gia đình. Điều này có thể là điểm thắc mắc của nhiều người, nhưng là một điều hợp lý. Sự độc thân, một phương tiện để phụng sự, đã được nhận thức từ lâu như một đức hạnh, một điều cao quý. Ý niệm đó cần được chỉnh lại. Sau thời hạn năm năm phụng sự độc thân, các Anh các Chị có thể kết hôn lập gia đình mà vẫn cứ là các Anh các Chị phụng sự trong dòng Tiếp Hiện. Người tu sĩ trong dòng Tiếp Hiện có thể tự mình tâm nguyện nên sống độc thân suốt đời để phụng sự, nhưng không phát nguyện điều đó ra như một điều cam kết có nghi lễ chứng minh. Điều này rất quan trọng, bởi vì do đó mà người tu sĩ Tiếp Hiện thấy tương lai tự do, không có cánh cửa nào khép lại trước mặt mình. Duy có một điều là làm sao để khi sống đời gia đình, những người ấy vẫn có thể phụng sự được như thường.

Có những điều kiện cần thiết để những người này có thể tiếp tục sống và phụng sự trong các dòng Tiếp Hiện. Điều kiện thứ nhất là người kết hôn phải cùng một lý tưởng. Một Chị chẳng hạn, không mong có thể tiếp tục đời Tiếp Hiện nếu kết hôn với một người không ở trong dòng Tiếp Hiện. Điều đó ai cũng thấy rõ. Cho nên Chị chỉ có thể được kết hôn với một Anh trong dòng. Riêng về các Anh thì tình thế có khác hơn. Bởi vì người con gái thường tùy thuận người con trai, cho nên điều kiện để một người con gái kết hôn với một Anh trong dòng Tiếp Hiện có thể là một năm học tập tại trường Phật học về kiến thức cần thiết để giúp người con trai hoàn thành sứ mạng phụng sự. Trường hợp đẹp đẽ nhất có lẽ là trường hợp một Anh và một Chị: vì cả hai đều ở trong dòng Tiếp Hiện nên có thể hiểu nhau và nâng đỡ nhau một cách dễ dàng.

Điều kiện thứ hai là con cái do những cặp vợ chồng ấy sinh ra không vượt quá mức tối đa là hai người. Ở xã hội ta, điều này có thể làm cho một số người lấy làm lạ lùng, nhưng sự hạn chế sinh nở đã là một điều có thể thực hiện dễ dàng, nhất là đối với người Phật tử. Vấn đề có lẽ không phải là vấn đề riêng cho những Anh, Chị nào trong dòng Tiếp Hiện muốn tiếp tục cuộc đời phụng sự, mà là vấn đề chung của xã hội, sớm muộn gì ta cũng phải đem ra để giải quyết. Không có một tôn giáo một luật pháp nào cho phép có những cuộc xúc tiếp sinh lý giữa người không phải vợ chồng và vì vậy vấn đề kiểm soát sinh nở không bao giờ có thể được chấp nhận đối với những người chưa thành gia thất, dù bằng phương pháp nào. Nhưng đối với những người đã có gia đình thì khác. Cố nhiên cũng không có một tôn giáo hay một nền pháp luật nào cho phép người ta kiểm soát sự sinh nở bằng cách sát sinh, hủy phá thai nhi, dù trong giai đoạn mà thai nhi còn là một tế bào. Nhưng tôn giáo và luật pháp không thể không xét về trường hợp phương pháp Ogino Knaus của Nhật Bản hay phương pháp dùng những loại contraceptive mới nhất để tạo nên một trạng thái thụ thai giả tạo nơi người phụ nữ để tránh sự thụ thai chân thực. Những phương pháp này không dính líu gì đến sự sát sinh cả. Người ta có thể áp dụng chúng để có thể có đủ phương tiện vật chất bảo đảm cho những đứa con sẵn có, hay là người ta cứ sinh ra thật nhiều con để rồi đứa nào cũng sẽ sống nheo nhóc như những đứa của Bà Mẹ Lê trong Gió Đầu Mùa của Thạch Lam, hình bóng mà ai cũng thấy đầy dẫy ở các xóm nghèo. Đưa một đứa trẻ ra đời tức là chịu trách nhiệm về đứa trẻ ấy. Ta không thể đưa ra đời một số hài nhi để rồi sau này chúng sống ốm yếu tàn tật còn khổ hơn những con vật của nhà giàu. Chúng tôi tưởng đạo Phật, khi xét vấn đề qua nguyên lý tứ diệu đế, sẽ công nhận điều đó.

Tuy nhiên, vấn đề không quan trọng gì trong trường hợp các Anh và các Chị trong dòng Tiếp Hiện. Họ có ý chí, đức tự chủ và chỉ cần đôi chút kỷ luật là có thể đạt được kết quả. Những gia đình của họ thành lập sẽ là và phải là những gia đình kiểu mẫu, thấm nhuần tinh thần đạo Phật. Chúng tôi nhận thấy con cái của các vị Mục Sư Tây phương cũng như của các vị Tân Tăng Nhật Bản đều dễ thương và thong minh: điều đó thực không có gì khó hiểu. Tuy nhiên điều cần nói ở đây là tuy có gia đình, các vị Mục Sư và Tân Tăng ấy vẫn có thì giờ để sống đời phụng sự. Những vị đã từng tiếp xúc với các giới ấy chắc sẽ đồng ý với chúng tôi.

Có một điều ta nhận thấy rõ rệt là gần như hầu hết các vị Mục sư và Tân Tăng đều sống đời có gia đình. Trong khi ấy ta biết rằng một số các anh, chị trong dòng Tiếp Hiện sẽ trở nên các vị Tăng sĩ Thể Nhập. Một số lớn sẽ sống đời sống phụng sự độc thân suốt đời. Chỉ có những Anh, Chị nào không theo hai con đường ấy mới thành lập gia đình mà thôi. Tuy vậy, chọn con đường nào trong ba con đường, các Anh, Chị vẫn có thể phụng sự, và phụng sự theo phương tiện riêng của mình.

 Ta cũng nhận thấy rằng tổ chức Tiếp Hiện hơn hẳn tổ chức Tân Tăng ở chỗ có nơi nương tựa tinh thần, và chính ở đó mỗi năm ba tháng người tu sĩ Tiếp Hiện trở về tu tập, tinh luyện thêm chất liệu tâm linh đạo đức. Phật Giáo Việt Nam sau này có thể thành công trong công việc hiện đại hóa cũng sẽ nhờ ở sự hiện hữu của các tu viện dòng Thể Nhập ấy và sự luôn luôn trở về nguồn gốc ấy của các dòng Tiếp Hiện. Như thế đạo Phật đi vào cuộc đời mà không bao giờ bị khô cạn, bởi vì chất liệu luôn luôn được sáng tạo và tiếp nối. Từ Thể Nhập để rồi đi sang Tiếp Hiện, dòng đạo đức tâm linh sẽ có mặt mãi mãi để thấm nhuần vào cuộc đời, làm cho cuộc đời hết khô cháy, làm cho cuộc đời thêm đẹp thêm tươi.

Ai cũng nhận thấy hiện nay công việc của Giáo hội tràn ngập, mọi ngành của Giáo hội trong xã hội đòi hỏi chuyên viên và nhân tài một cách cấp bách. Số lượng những người có thể phụng sự hiện nay không lên tới được một phần ngàn số lượng cần thiết về nhân sự. Vậy không lý do gì mà Giáo hội lại không mở rộng giáo chế để đón mời người trí thức chuyên viên, văn nghệ sĩ và thanh niên vào hàng ngũ phụng sự. Số lượng và khả năng của giới tăng sĩ hiện tại đã biết không thể nào đáp ứng lại được nhu cầu xã hội hóa đạo Phật, nhu cầu mỗi ngày thêm rõ rệt và cấp bách.

Có lẽ trong tình trạng cấp bách hiện thời của đất nước và tôn giáo, những điều kiện để thu nhận ứng viên vào các dòng Tiếp Híện có thể dễ dãi hơn. Thay vì học xong ban Cử nhân Phật học, ứng viên có thể chỉ học xong vài chứng chỉ căn bản về lý thuyết và thực hành về Phật học. Và kiến thức ấy phối hợp với khả năng chuyên môn sẵn có của ứng viên, sẽ có thể làm căn bản cho mọi hoạt động phụng sự. Viện Tăng Thống sẽ quy định thể thức thành lập các dòng tu Tiếp Hiện và Viện Hóa Đạo sẽ thực hiện theo những thể thức ấy. Tất cả những thanh níên, trí thức, hoặc chuyên viên nào có kiến thức hoặc về kinh tế, giáo dục, xã hội hay văn hóa mà muốn phụng sự tích cực cho lý tưởng đạo Phật trong các dòng Tiếp Hiện sẽ ghi tên theo học các chứng chỉ Phật học căn bản và cần thiết trước khi trở nên ứng viên của một trong những dòng tu Tiếp Hiện. Tùy theo khả năng và nhu cầu họ ở lại trung ương để gia nhập vào những hội đồng nghiên cứu và điều hành chương trình phụng sự của các Tổng Vụ, hoặc đi thừa hành công vụ ở các địa phương cần thiết. Họ sẽ làm việc bên cạnh và hợp tác chặt chẽ với những thanh niên phụng sự xã hội do Giáo hội gửi đi các tỉnh, các quận, các làng.

Khi đạo Phật đã được mang vào cuộc đời tận những hang cùng ngõ hẻm của nó thì ranh giới giữa tôn giáo và cuộc đời sẽ bị xóa nhòa. Người tu sĩ Tiếp Hiện sẽ không nghĩ rằng mình đang làm việc cho uy thế của Giáo hội mà chỉ nghĩ rằng mình đang phụng sự cho cuộc đời bằng phương châm và tinh thần đạo Phật. Sự hòa hợp giữa văn hóa, khoa học, tôn giáo do đó mới dần dần được thể hiện ngay trong lòng của sự sống xã hội và các ranh giới mới có thể dần dần bị xóa bỏ.