Đời sống
Con Đường Thoát Khổ
Đại đức W. Rahula Thích Nữ Trí Hải dịch
03/04/2553 22:08 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Con Đường Thoát Khổ
Đại đức W. Rahula
Thích Nữ Trí Hải dịch

Lời Giới Thiệu

Đại Đức Rahula, người Tích-Lan được đào tạo trong truyền thống Thượng-Tọa Bộ tại các Phật Học Viện (Pirivena), sau vào Đại-Học Tích-Lan đậu bằng B.A. (London) rồi viết luận án Tiến Sĩ về lịch sử đạo Phật ở Tích-Lan và được cấp bằng Tiến Sĩ Triết học (Ph. D.). Sau Đại Đức qua Calcutta, cộng tác với các giáo sư Đại-Thừa và bắt đầu học chữ Hán và chữ Tây-Tạng. Cuối cùng Đại-Đức qua Đại Học Đường Sorbonne để nghiên-cứu về Ngài Asanga (Vô Trước) và mai nay vẫn ở tại Paris vừa giảng dạy đạo Phật, vừa trước tác sách vở. Như vậy, Đại-Đức có thể được xem là tinh thông cả hai giáo lý Đại thừa và Tiểu thừa. Kỳ qua Paris năm 1965, tôi có viếng thăm Đại-Đức và trong câu chuyện ngót hai tiếng đồng hồ, chúng tôi bàn luận rất nhiều về liên lạc giữa Nam tông và Bắc tông, và chúng tôi đồng ý rằng cả hai tông đều chấp nhận và thọ trì một số giáo lý căn bản.

Nói một cách khác, không có Đại thừa, Tiểu thừa, không có Nam Tông hay Bắc Tông. Sở dĩ có phân chia Tông phái là vì sự diễn biến của lịch sử và sự truyền bá của đạo Phật qua nhiều truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, quốc độ khác nhau và tông phái nào cũng chấp thuận một số giáo lý căn bản chung cho tất cả truyền thống. Quyển sách này là một sự cố gắng của tác giả để giới thiệu những giáo lý căn bản ấy và những ai muốn tìm hiểu đạo Phật cũng cần phải hiểu biết ít nhất số giáo lý căn bản ấy. Riêng đối với Phật tử Việt-Nam, một số lớn được học ngay vào kinh điển Đại-Thừa, lại cần phải hiểu giáo lý căn bản này để soi sáng lại sự hiểu biết của mình và để tìm lại sự liên tục của quá trình phát triển tư tưởng Phật giáo. Riêng đối với Sinh-viên Đại-học Vạn-Hạnh, tài liệu của tập sách này cần được xem là tài-liệu căn bản và tối thiểu để xây dựng nền tảng Phật học của mình.

Quyển sách này viết cho giới trí thức Âu Mỹ, một giới trí thức có một bối cảnh khoa học và văn minh Cơ-Đốc giáo, nên các vấn đề thảo luận, phương pháp trình bày rất thiết thực, linh động, sát với thực tế và liên hệ ngay đến đời sống và những thắc mắc hiện đại. Giá trị quyển này phần lớn nhờ ở điểm này. Tác giả dẫn chứng rất nhiều lời dạy trong kinh điển Pali để chứng minh cho sự trình bày của mình, một thái độ và một phương pháp khoa học đáng được hoan nghênh và bắt chước. Thường chúng ta trình bày đạo Phật ngang qua sự hiểu biết của chúng ta và điều nguy hại hơn, ngang qua cảm tình và sở thích của chúng ta, và vì vậy nhiều khi tư tưởng và thái độ của Đức Phật bị bóp méo rạn nứt rất nhiều. Để bớt tệ hại nầy, phương pháp hữu hiệu nhất là dẫn chứng trong kinh điển những lời dạy của chính Đức Phật để xác chứng quan điểm của mình trong khi trình bày, một thái độ mà tác giả tập sách này đã theo rất trung thành.

Dịch giả quyển sách này là Cô Trí Hải, một tên quá quen thuộc với giới học giả. Với tài dịch thuật và sự hiểu biết giáo lý căn bản của cô, thiết tưởng không cần phải giới thiệu dài giòng về cô. Tên của cô cũng đủ bảo đảm cho giá trị dịch thuật của tập sách này rồi.

Sài Gòn, ngày 9-1-1966
Tỳ-kheo Thích Minh Châu
Viện-trưởng Viện Đại-học Vạn-Hạnh


Lời Nói Đầu

Hiện nay trên khắp hoàn cầu, Phật học càng ngày càng được chú ý. Nhiều hội Phật học và những nhóm học Phật đã ra đời, và nhiều sách viết về giáo lý Đức Phật đã xuất hiện. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là tác giả những sách ấy phần nhiều không thực có thẩm quyền trong địa hạt, hoặc đưa ra những giả thuyết sai lầm rút từ những tôn giáo khác, do đó trình bày và giải thích Phật giáo một cách sai lạc. Một vị giáo sư về tôn giáo tỷ giảo gần đây viết một cuốn sách về Phật giáo, nhưng không biết cả đến điều rằng A-nan, thị giả trung kiên của Đức Phật, là một tăng sĩ, và lại tưởng ông ta là một cư sĩ thế tục! Kiến thức Phật học do những cuốn sách như thế truyền bá sẽ ra sao, độc giả cũng có thể tưởng tượng.

Cuốn sách nhỏ nầy trước hết dành cho những độc giả có học thức thông minh chưa được học hỏi về Phật pháp muốn biết những gì Đức Phật đã dạy thực sự. Để cho những độc giả ấy được lợi ích, tôi đã cố trình bày gọn ghẽ và trực tiếp những lời đã thật do Đức Phật dùng, như được tìm thấy trong nguyên bản Pali của Tam Tạng mà tất cả các học giả đều đồng ý cho là những bản ghi chép đầu tiên còn tồn tại về những lời dạy của Đức Phật. Tài liệu và những đoạn văn trích ra ở đây cũng đã rút ra ngay từ những nguyên bản ấy. Trong vài chỗ, tôi cũng có dùng đến một vài trước tác về sau này.

Tôi cũng nghĩ đến những độc giả đã có một ít kiến thức về những gì Đức Phật dạy và muốn khảo cứu thêm. Bởi thế không những tôi đã chua thêm những từ ngữ tương đương tiếng Pali về phần lớn những danh từ chủ chốt, mà còn để cả những đoạn nguyên văn ở phần chú thích, và một thư mục chọn lọc.

Công việc của tôi đã gặp phải nhiều khó khăn: suốt tập sách tôi đã cố gắng trình bày cho độc giả Âu châu ngày nay một cái gì họ có thể hiểu được và thưởng thức, mà vẫn không hy sinh nội dung hay hình thức những lời dạy của Đức Phật. Khi viết sách này tôi luôn luôn ôn lại trong trí nguyên văn những đoạn kinh, và bằng cách ấy tôi đã cẩn thận giữ những tiếng đồng nghĩa và sự lập lại, một đặc điểm của lời Phật dạy như đã được khẩu truyền đến nay, để độc giả có một ý niệm về hình thức giảng dạy của Đức Phật. Tôi đã cố hết mức theo sát nguyên văn, và làm cho lời dịch dễ hiểu.

Nhưng có một giới hạn cho sự giản dị hóa mà nếu vượt qua, chúng ta sẽ dễ đánh mất ý nghĩa đặc biệt mà Đức Phật muốn truyền dạy. Vì đã chọn nhan đề là "Những gì Đức Phật dạy" (What the Buddha Taught) tôi nghĩ cần phải ghi lại những lời lẽ của Đức Phật, ngay cả những con số Ngài dùng, thay vì một lối dịch thoát ý có thể dễ hiểu hơn nhưng lại dễ rơi vào lỗi xuyên tạc ý nghĩa.

Trong tập sách nhỏ này tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhận là giáo lý tinh yếu và căn bản của Đức Phật. Đấy là những thuyết về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Uẩn, Nghiệp Báo, Luân Hồi, Duyên Khởi, thuyết Vô Ngã (Anatta), Niệm Xứ (Satipatthàra). Dĩ nhiên sẽ có những từ ngữ chắc phải lạ lùng đối với độc giả phương Tây. Tôi sẽ khuyên họ nên đọc chương đầu, rồi tiếp đến các chương V, VII, và VIII và trở lại các chương II, III, IV và VI khi ý nghĩa tổng quát đã sáng sủa và linh động hơn. Không thể viết một cuốn sách về giáo lý của Đức Phật mà không bàn đến những tiêu đề mà các Tông phái Theravàda (Nguyên thủy) và Mahàyàna (Đại thừa) đã công nhận là căn bản trong tư tưởng hệ Phật giáo.

Danh từ Theravàda -- Hinayàna hay "Tiểu thừa" không còn được dùng trong lãnh vực nghiên cứu -- có thể dịch là "Tông phái của những bậc Trưởng lão" (Theras) và Mahàyàna là "Đại thừa". Đấy là những danh từ dùng để chỉ hai hình thức chính của Phật giáo thịnh hành trong thế giới hiện nay. Theravàda, được xem như giáo lý chính thống uyên nguyên của Phật, thịnh hành ở Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên, Lào, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ, v.v. Có vài dị biệt, nhất là về một số những tín điều và phương pháp giữa hai tông phái, nhưng cả Theravàda và Mahàyàna đều tương đồng về những giáo lý quan trọng nhất của Đức Phật, như những giáo lý được đề cập đến trong sách này.

Tôi chân thành cảm ơn Giáo sư E.F.C. Ludowyk, người đã mời tôi viết cuốn sách này, về tất cả sự giúp đỡ của ông, về những ý kiến ông đề nghị, về việc ông chịu khó đọc lại bản thảo. Tôi cũng cảm ơn cô Marianne Mohn đã coi lại bản thảo và cho những ý kiến đầy giá trị. Cuối cùng, tôi xin ghi nhận nơi đây lòng tốt của giáo sư Paul Demiéville, thầy học của tôi ở Paris, đã viết tựa cho cuốn sách này.

(Nguyên tác: Walpola Sri Rahula. What The Buddha Taught. Grove Press. 1959, 1974.)



Đức Phật

Đức Phật tên là Siddhatta (Tất-Đạt-Đa) (tiếng Sanskrit là Siddhàrtha), họ là Gotama (Cồ-Đàm) (Skt.: Gautama), sống ở Bắc Ấn vào thế kỷ thứ VI trước Tây Lịch. Phụ thân Ngài là Suddhodana (Tịnh-Phạn) người cai trị vương quốc của những người Sàkyas (ở Nepal ngày nay). Mẹ ngài là hoàng hậu Màyà (Ma gia). Theo tục lệ thời bấy giờ Ngài kết hôn rất sớm, vào năm 16 tuổi , với một công chúa xinh đẹp đức hạnh tên Yasodharâ (Da giu đà la). Vị thái tử trẻ sống trong cung điện với đầy đủ những xa hoa lộng lẫy. Nhưng bỗng nhiên va chạm với thực tại cuộc sống và khổ đau của loài người, Ngài quyết định tìm giải pháp - con đường ra khỏi nỗi khổ bao la này. Năm 29 tuổi sau khi người con duy nhất Ràhula (La Hầu La) ra đời, Ngài từ bỏ cung điện và trở thành một người khổ hạnh ra đi tìm giải pháp ấy.

Trong 6 năm, nhà khổ hạnh Gotama (Cồ Đàm) lang thang khắp thung lũng sông Hằng (Ganges), gặp những vị thầy danh tiếng, học hỏi và theo những hệ thống và phương pháp của họ, khép mình vào những kỷ luật khổ hạnh khắt khe. Nhưng Ngài không được thỏa mãn với những lý thuyết và thực hành ấy. Bởi thế Ngài từ bỏ tất cả những tôn giáo cổ truyền và những phương pháp của chúng, theo con đường của riêng Ngài. Dần dà, một buổi chiều ngồi dưới một cội cây (từ đấy cây này được gọi là cây Bồ-Đề, Bodhi, hay cây Bồ, có nghĩa là "cây trí huệ") trên bờ sông Neranjarà (Ni liên thuyền) ở Buddha-Gaya (Bồ-Đề Đạo Tràng, gần Gaya trong xứ Bihar ngày nay), Gotama đạc Giác Ngộ và từ đấy Ngài được tôn xưng là Đức Phật, "Người đã Giác Ngộ". Năm ấy Ngài 35 tuổi.

Sau khi chứng đạo, Đức Phật Gotama thuyết pháp lần đầu tiên cho một nhóm 5 nhà khổ hạnh, những người bạn cũ của Ngài tại vườn Nai (Lộc Uyển) ở Isipatna (Sarnath ngày nay), gần Benarès (Ba La Nại). Từ ngày ấy Ngài giáo hóa suốt 45 năm cho tất cả mọi tầng lớp đàn ông, đàn bà vua chúa và thường dân, giai cấp Bà-La-Môn và hạ tiện, thương gia và hành khất, những người thánh thiện và bọn cướp đường - hoàn toàn không phân biệt hạng người này với hạng kia. Ngài không công nhận những dị biệt về giai cấp hay tập đoàn xã hội, và Đạo Ngài thuyết ra được mở rộng cho tất cả mọi đàn ông và đàn bà sẵn sàng hiểu và theo.

Năm 80 tuổi, Đức Phật nhập diệt ở Kusinàrà (Câu thi na, ngày nay là Uttar Pradesh).

Hiện nay đạo Phật được tìm thấy ở Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên, Lào, Việt Nam, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ, Triều Tiên, Đài Loan và một vài nơi ở Ấn Độ, Hồi Quốc và Nepal và cả ở Liên Sô. Tín đồ Phật giáo trên thế giới có trên 500 triệu.


Bảng Viết Tắt

A Anguttaara-nikâya, ed. Devamitta Thera (Colombo, 1929) and PTS edition.
Abhisamuc Abhidharma-samuccaya of Asanga, ed. Pradhan (Visvabharati, Santiniketan, 1950).
 
D Digha-nikâya, ed. Nânâvâsa Thera (Colombo, 1929).
DA Digha-nikâyatthakathâ, Samangalavilâsini (Simon Hawavitarne Bequest Series, Colombo).
Dhp Dhammapada, ed. K. Dhammaratana Thera (Colombo, 1926).
DhpA Dhammapadatthakathâ (PTS edition).
Lanka The Lankâatâra-sùtra, ed. Nanjo (Kyoto, 1923).
M Majjhima-nikâya (PTS edition).
Ma Maljhima-nikâyatthakathâ, Papancasudani (PTS edition).
Madhyakari Mâdhyamika-Kârikâ of Nâgârjuna, ed. L. de la Vallée Poussin (Bib. Budd. IV).
Mh-Suttalankara Mahâyâna-sutrâlankâra of Asanga, ed. Sylvain Levy (Paris, 1907).
Mhvg Mahâvagga (of the Vinaya), ed. Saddhâtissa Thera (Alutgama, 1922).
PTS Pali Text Society of London.
Prmj Paramatthajotikâ (PTS edition).
S Samyutta-nikâya (PTS edition).
Sarattha Sâratthappakâsini (PTS edition).
Sn Suttanipâta (PTS edition).
Ud Udâna (Colombo, 1929).
Vibh Aibhanga (PTS edition).
Vism Visuddhimagga (PTS edition).

                                                                           Nguồn :Đạo Phật Ngày Nay