Tôi
muốn bắt đầu bằng một nhận xét mà tôi nghĩ là cực kỳ quan trọng nhưng ít
ai đề cập đến, đó là, cả hai loại văn bản kinh điển - một mặt là tạng
kinh Nguyên thủy Nikayas và kinh A Hàm và mặt khác là các kinh điển Đại
thừa – theo một nghĩa nào đó đều nhìn vào chính đức Phật như là một lý
tưởng để hướng đến. Nghĩa là, đây không phải trường hợp Phật giáo Nguyên
thủy bỏ qua Đức Phật và thay vào đó lại xem các đệ tử của Ngài như một
lý tưởng để noi theo, còn Phật giáo Đại thừa đã đến cứu vãn tình thế
bằng cách phục hồi lại những gì các vị " Tiểu thừa" đã bỏ qua, nghĩa là,
chính Đức Phật là động lực khơi nguồn cảm hứng cho họ. Mà đúng hơn là
tôi muốn giữ nguyên ý kiến là đệ tử của cả hai tông phái Phật giáo này –
cùng những văn bản kinh điển chính thức từ đó hai tông phái này đã phát
triển - đều nhìn vào Đức Phật như một gương mẫu mà mọi Phật tử chân
chính đều cố gắng noi theo và vươn tới.
Trước tiên hai tông phái
này vẫn còn khác nhau bao lâu mà họ vẫn nhìn Đức Phật từ hai góc độ khác
nhau. Tôi sẽ dùng một hình ảnh so sánh tương tự để minh họa điểm này và
rồi sẽ đưa ra lời giải thích đầy đủ hơn. Ở Tu viện của chúng tôi, tòa
Chánh điện có hai cửa ra vào ở vào hai phía đông và tây của tượng Phật.
Nếu người ta nhìn vào tượng Phật sau khi bước vào Chánh điện bằng cửa
phía tây, thì hình tượng Đức Phật hiện ra theo một góc độ làm nổi bật
một vài đặc điểm trên nét mặt của Ngài. Nếu người ta nhìn vào hình tượng
của Ngài khi đi vào Chánh điện bằng cửa phía đông, thì Đức Phật hiện ra
theo một kiểu khác, góc độ ấy làm nổi bật những đặc điểm khác trên nét
mặt của Ngài. Tôi thấy đây là một hình ảnh so sánh thích hợp đối với
quan điểm của hai truyền thống Phật giáo về Đức Phật và sự giác ngộ của
Ngài. Tôi thấy cả hai tạng Kinh Nguyên thủy Nikayas và Kinh A Hàm và
tạng kinh Đại thừa cho chúng ta nhìn Đức Phật và sự giác ngộ của Ngài từ
những góc độ khác nhau, và như vậy cho chúng ta những hiểu biết khác
nhau về vấn đề thế nào là một đệ tử chân chính của Đức Phật.
Để
tóm tắt nét đặc trưng của hai quan điểm ấy, tôi muốn nói rằng kinh tạng
Nguyên thủy và A Hàm cho chúng ta nhìn Đức Phật từ 'một góc độ lịch sử
thực tế', trong lúc kinh điển Đại thừa cho chúng ta nhìn Đức Phật từ
'một góc độ huyền thoại siêu hình'. Bằng cách sử dụng những từ này, tôi
không có ý định dùng kinh tạng Nguyên thủy để làm giảm giá trị của kinh
điển Đại thừa, mặc dù tự nhiên là tôi xem kinh tạng Nguyên thủy có vẻ
gần gũi hơn với những lời giảng dạy của chính Đức Phật. Đúng hơn, tôi
chỉ cố gắng nêu lên những nét đặc trưng trong quan điểm mà hai tạng kinh
này sử dụng khi đề cập đến Đức Phật và diễn giải ý nghĩa sự hiện hữu
của Ngài đối với thế giới. Rồi từ hai quan điểm ấy, xác định những gì
đức Phật đã thành tựu qua sự giác ngộ của Ngài. Tuy nhiên, mặc dù là một
vị A-la-hán, chúng ta có thể gọi Ngài là 'một vị A-la-hán với nhiều đặc
điểm khác biệt', hơn nữa, Ngài không chỉ là một vị A-la-hán với vài
điểm đặc biệt, mà cuối cùng đó là một vị A-la-hán với những đặc điểm
khác biệt đã nâng Ngài lên tầm mức phi thường, trở thành bậc Đạo sư của
cả thế giới, một vị đứng trên tất cả các vị A-la-hán khác. Những đặc
điểm này có thể nói là đã mở cửa cho 'quan điểm huyền thoại siêu hình'
về đức Phật như một cách cho chúng ta hiểu những gì đã tạo ra sự khác
biệt ấy. Một khi cách cửa này đã mở ra, thì Đức Phật được nhìn như một
vị đã hoàn thành viên mãn hạnh nguyện Bồ tát trải qua vô luợng kiếp,
trong đó Ngài đã hy sinh thân mạng mình bằng nhiều cách, nhiều lần, vì
lợi lạc cho chúng sanh, đây là khía cạnh huyền thoại của quan điểm đó.
Một lần nữa, Ngài được xem như vị đã đạt đến thực tại tối thượng, là Như
Lai, người từ Chân Như đến, và trở về với Chân Như, thế nhưng Ngài là
vị không trụ ở đâu cả, đây là khía cạnh siêu hình của quan điểm đó. Và
quan điểm huyền thoại siêu hình này trở thành đặc điểm của kinh điển Đại
thừa.