Người tu nếu không có niềm tin thì việc
tu khó đi đến nơi đến chốn. Niềm tin này phải là chánh tín, tin ở chính
mình, chứ không phải tin một cách mù quáng hay vì bị bắt buộc phải tin.
Đức Phật đã từng nói: “Như Lai không bắt ai phải tin mình cả. Hãy
nghe những gì Như Lai nói, suy gẫm, thực hành thấy có lợi ích thiết thực
rồi hãy tin và đến với Như Lai”. Rõ ràng đức Phật không bắt buộc ai tin
Ngài và đến với Ngài cả. Nhiều người tin một cách nông cạn, cứ tin càn
tin bướng mà không cần suy xét điều mình tin có đúng hay không?
Đạo Phật dạy lý nhân duyên quả báo. Tất cả những gì chúng ta có ngày
hôm nay đều từ nhân duyên hoặc đời trước hoặc trong đời này. Không có
quả nào mà không từ nhân ra. Cũng vậy, việc tu học của chúng ta cũng
không thể do một ai ban cho. Mình tạo nhân lành thì được phúc quả tốt
đẹp, muốn chấm dứt mầm khổ đau thì đừng tạo nhân đau khổ. Tu sửa những
việc xấu, siêng làm những việc lành, phúc quả tốt đẹp có được từ công
phu tu tập, sẽ đem đến cho chúng ta niềm tin, sự hiểu biết và lòng nhiệt
thành.
Khi có được niềm tin từ chính công phu của mình rồi, chúng ta mới nỗ
lực tiến tu. Càng tu càng chiêm nghiệm giáo pháp thì niềm tin lại càng
vững chắc. Vì vậy nếu việc tu học lãng xao, không có kết quả thiết thực
thì cũng sẽ không có niềm tin. Trong kinh nói: “Lòng tin là mẹ của các
công đức”. Niềm tin chắc thật một khi đã đủ thì không gì có thể làm cho
nó khuất lấp hay bị mất được. Cho nên người con Phật chúng ta phải xây
dựng, bồi dưỡng thật vững chắc niềm tin đối với đạo. Tin bằng trí tuệ,
ta đến với đạo bằng trí tuệ bằng sự hiểu biết. Chưa hiểu mà đến, niềm
tin ấy gọi là mê tín.
Một niềm tin không được xây dựng bằng trí tuệ, thông qua cái ngã mà
có sự cảm thông, tin kính thì niềm tin ấy dễ bị lung lay lắm. Người thế
gian đối với gia đình, bạn bè, mọi người chung quanh, một khi đã bị mất
niềm tin rồi thì cuộc sống cũng mất phương hướng. Họ rơi vào tình trạng
bất đắc chí, sống không có lý tưởng, mất điểm tựa. Trong đạo Phật không
chấp nhận con người sống trong tình trạng như thế. Vì vậy chúng ta phải
xây dựng niềm tin của mình thật vững. Niềm tin đó là tin vào chánh pháp,
tin ở khả năng có thể thành Phật của chính mình.
Phật dạy tất cả các pháp đều vô thường. Qua học hỏi hiểu biết, qua
kinh nghiệm cuộc sống, chúng ta thấy rõ điều đó nên tin chắc như vậy.
Quan trọng là do kinh nghiệm bản thân, chúng ta thấy quả thực lời Phật
nói đúng nên ta tin, vì chính mình cũng thấy cũng nhận như vậy. Đó gọi
là niềm tin chắc thật. Khi đã có sự khẳng định như vậy rồi thì dù trời
lay đất chuyển, ta vẫn cứ tin. Người tu nếu không có niềm tin đối với
chánh pháp, rất dễ dàng bỏ đạo. Vào chùa nghe quí thầy nói đạo lý thì
tin, nhưng lát nữa ra ngoài nghe ai nói cái gì lạ lạ, liền bỏ cái trước
chạy theo cái sau. Người đi tới hai ba bước, thụt lùi hai ba bước thì
chừng nào mà đến nơi. Đường đạo dài lắm chứ không phải ngắn đâu. Vì vậy
Hòa thượng thường nhắc nhở chúng ta, phải phát tâm trường viễn kiên cố
mới đi đến nơi đến chốn được.
Lòng tin giống như vọng gác ở một gốc thành. Thường thường thành vua
hay những cơ quan quan trọng, người ta xây khung thành rào lại, rồi đặt
những vọng gác ở gốc thành. Vọng gác phải được giữ gìn cẩn mật, kiên cố
mới canh chừng kẻ gian xâm phạm vào bên trong được. Nếu vọng gác không
đảm bảo, thì những phần tử xấu bên ngoài xâm nhập vào trong phá rối tất
cả. Cũng thế, người không vững niềm tin, gặp việc gì cũng chao đảo,
không giữ được lập trường nên mất phương hướng và kết quả là dẫn đến sự
thất bại.
Trở về việc tu học của chúng ta, nếu muốn làm những việc công đức thì
phải tuân theo sự chỉ dạy của Phật, của thầy tổ. Ví dụ như Phật tử tại
gia thì quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới. Nhờ theo đúng như vậy ta có
được kết quả lợi lạc nên cuộc sống an ổn vui vẻ. Từ đó mà công đức và
niềm tin phát sanh. Ta đã quyết tâm thực hành như vậy, cứ từng bước bước
mà đi. Dù cho chung quanh có chướng ngại, ta vẫn cứ đi, đảm bảo sẽ tới
nơi.
Nói đến đạo Phật là nói đến tu tâm, tức là mình tu trong lòng mình,
không ai ngăn cản được. Tại mình vọng động, tu không được nên than phiền
người này trách cứ người kia, thành ra việc tu tập bị ngăn ngại, chứ có
ai nhảy vào lòng mình cản đâu. Nhiều người tu mấy chục năm mà không
biết gì hết. Nghe nói tu tâm thì “Ờ, tu tâm”, nghe nói dưỡng tánh thì
dưỡng tánh, nghe nói tu thiền cũng tu thiền, ai rủ đi núi đi non cũng cứ
đi. Thật ra chẳng biết chi nên chẳng tới đâu hết.
Chúng ta không thể tu hành như vậy được, phải sửa lại. Từng bước từng
bước theo dõi quán sát việc tu học của mình trong ba nghiệp. Ý nghĩ gì,
thân làm gì, miệng nói gì? Điều ta nghĩ, ta làm, ta nói đó có đúng với
chánh pháp hay không, đúng thì tiếp tục làm, không đúng thì bỏ ngay.
Phải thực tập từng bước như vậy mới gọi là tu chứ. Giống như ở đây, Hòa
thượng đưa Tăng Ni vào trong một cái khuôn, đùm bọc dạy dỗ nhắc nhở,
hướng dẫn từng bước một từ chặng đầu cho đến chặng cuối. Mấy chú phải tu
như vậy như vậy. Ví dụ người mới ngồi thiền, Hòa thượng dạy ngồi nửa
tiếng thôi, rồi tăng dần từ nửa tiếng lên bốn mươi lăm phút, một giờ,
một giờ rưởi, hai giờ. Dìu dẫn từng bước như vậy mới đảm bảo.
Người có quá trình tu tập theo một nền tảng như vậy, chắc chắn sẽ khó
bị lung lay bởi những cám dỗ khác. Giả dụ như việc thực tập tọa thiền
của mình đã trải qua một quá trình từ lạ đến quen, bây giờ có người tới
nói “Tôi ngồi thiền một tiếng đồng hồ có thể bay lên hư không hay biết
quá khứ vị lai…” Ta vẫn bình thản, không có gì chao đảo. Vì mình đã trải
qua những giai đoạn đó rồi, đã được sự hướng dẫn cặn kẽ của Thầy tổ và
đang trong vòng thể nghiệm đây. Nghe thì nghe nhưng không ai làm ảnh
hưởng đến việc tu học hằng ngày của ta được. Đó là niềm tin đã vững.
Niềm tin này xuất phát từ công phu tu tập mà ra.
Trong nhà thiền, các Thiền sư thường dạy tâm bình thường là đạo. Hỏi
đạo là gì? Tâm bình thường. Sinh hoạt đạo lý hằng ngày như thế nào? Đừng
để tâm vọng động. Sống trong cái bình thường trong cái hiện tại, trong
sự vận hành liên tục của các pháp mà không bị đắm trước, sáng suốt tỉnh
táo, đó là sống đạo. Người sống được như vậy là người có niềm tin vững
chắc. Chúng ta cứ tưởng đạo là cái gì ở trên trời trên mây, chỉ có các
ông Thánh mới làm nổi, còn mình vô phần. Do đó ta tự đánh mất cái quý
giá nhất của mình. Đạo thật ra ở sát một bên ta, nhưng vì nó quá gần nên
mình không thấy, không nhận ra. Như tôi ngồi đây có thể nhìn xa tận
ngoài vườn tới mấy chục mét, nhưng cái lỗ mũi trước mắt tôi lại không
thấy. Bởi vì nó gần quá, thường quá nên mình đâu có quan tâm.
Phật nói cũng thế, tánh Phật nằm sẵn trong mỗi chúng ta mà mình lại
không nhận ra, cứ chạy ngược chạy xuôi, lên non lên núi, tìm thầy tìm tổ
ban cho. Đã sai lầm như vậy thì biết đến bao giờ mới nhận được. Cho nên
người tu phải tỉnh táo, xoay lại mình đừng phóng ra ngoài nữa, thì mới
không mất mình. Nhà thiền nói phản quan tự kỷ, nghĩa là xoay lại xem xét
lấy mình. Tu là làm những việc rất bình thường nhưng trong tinh thần
tỉnh táo sáng suốt, chứ không mê lầm cố chấp. Bởi thế có khi tôi nói tu
rất dễ. Vì ta vẫn làm việc bình thường thôi, chỉ đừng chạy theo các
duyên là đủ. Vậy mà mấy ai làm được? Bởi vì mình khinh thường cái hiện
hữu gần kề cho nên không quan tâm đến nó, thành ra cuối cùng mất đi.
Ví dụ theo thời khóa, buổi sáng mình ngồi thiền, ăn cơm, làm việc,
nghỉ trưa. Chiều học hoặc ngồi thiền, tụng kinh, ngồi thiền rồi nghỉ
tối. Rất là bình thường, không khó khăn gì. Nhưng nếu ta không vững niềm
tin thì tới giờ tụng kinh mình bận việc, có khách, tới giờ ngồi thiền
thấy đau lưng mệt mỏi, thay vì ngồi thiền mình lại nằm thiền. Tới giờ
ăn, nói ăn không nổi. Thế là mình làm xáo trộn đi cái bình thường. Cho
nên người giữ vững, đều đặn những chuyện bình thường, tới giờ ăn cứ ăn,
tới giờ nghỉ cứ nghỉ, đó là người biết hành đạo và gần với đạo. Thế thì
đâu có khó khăn gì, phải không? Tại mình bất thường nên mới thấy khó
khăn. Vì vậy Tổ Tăng Xán nói: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”,
nghĩa là chỗ tột cùng của đạo không khó, chỉ ngại vì người hay chọn lựa
mà thôi.
Những việc cơ bản bắt đầu từ thời bé thơ, mình bước đi chập chững, mẹ
mình cũng chỉ hướng dẫn thôi chứ đâu có đi thế mình được, rủi ro có vấp
ngã thì mình cũng tự đứng dậy. Đó là chuyện bình thường. Cũng thế, việc
tu hành đừng trông mong có một thần lực nào luôn bên cạnh, chờ mình té
là đỡ. Đừng mong như vậy, mà bằng trí tuệ, bằng đôi tay đôi chân của
mình, ta tự đứng dậy. Chỉ có cách đó là bảo đảm nhất.
Trong kinh Phật dạy: “Lòng tin là gốc đạo, là mẹ của các công đức,
làm tăng trưởng tất cả các pháp lành, diệt trừ tất cả các nghi hoặc, thị
hiện mở bày đạo vô thượng”. Lòng tin là gốc của đạo, là mẹ của tất cả
các công đức, như tôi đã nói, làm việc gì mà không vững niềm tin thì
chẳng tới đâu hết. Như Phật tử đi chùa nghe pháp, thờ Phật, ăn chay mấy
năm rồi nhưng không hiểu biết chính xác gì về đạo. Hôm nào đó nghe người
ta nói ăn chay coi chừng bị ung thư, liền hoảng sợ bỏ cuộc. Mình quyết
định bỏ cuộc chớp nhoáng như vậy là đã mất mấy năm công phu rồi. Đó là
do niềm tin đã bị lung lay. Thế gian vô thường, ta công phu chưa được
bao nhiêu mà đã bỏ cuộc thì tu hành không biết đến bao giờ mới xong.
Thời giờ qua rồi, không trở lại, việc tu tập nếu không có lòng tin vững
chắc thì công đức làm sao có được? Nên kinh nói: “Lòng tin là gốc của
đạo, là mẹ của tất cả các công đức”, mất lòng tin là mất tất cả.
Pháp của Phật dạy tuy nhiều, nhưng chỉ cần nắm vững một pháp thôi
cũng đủ cho chúng ta tu rồi. Như Thiền sư Pháp Thường ở núi Đại Mai chỉ
tin một câu “Tức tâm tức Phật” của Mã Tổ thôi, mà Ngài hoàn thành đại
sự, giác ngộ giải thoát ngay trong hiện đời. Nếu quyết tâm mà làm thì
đảm bảo hiện tại không có gì lay chuyển ta nổi. Ví dụ như ta đang tu
thiền, nhưng nghe nói tu thiền điên, ta vẫn bình thường. Tại sao mình
bình thường? Vì chính mình đang tu thiền đây nhưng có điên đâu. Người tu
chân chánh giữ được mức bình thường là người có niềm tin kiên cố, không
gì lay chuyển nổi. Vui không quá vui, buồn không quá buồn, ăn không quá
no, ngủ không quá nhiều, không nói nhiều, nghĩ nhiều, đi nhiều. Nói
nhiều thì tản thần, đi nhiều thì mỏi chân, nghĩ nhiều thì loạn động.
Thường phản quan tự kỷ, soi xét lại mình. Cách tu này, đối với Phật
giáo Việt Nam nhất là thời Trần rất được thịnh hành. Phản quan tự kỷ,
tức là nhìn lại mình, không bị động, không chạy ra bên ngoài. Xoay lại
mình để làm gì? Để thấy cái dở thì giảm lại, bỏ đi. Như bớt nói một
chút, bớt dính dáng việc chung quanh một chút, mình sẽ cảm thấy nhẹ
nhàng ngay. Nói tóm lại là tự soi lại mình để làm chủ ba nghiệp, đừng
phạm lỗi lầm. Như vậy thì không gây tạo nhân khổ, chắc chắc không chuốc
quả khổ, rốt ráo được an vui.
Đức Phật từng nói trong kinh Pháp Cú “Tự chiến thắng mình là chiến
công hiển hách nhất”. Chiến thắng trăm ngàn quân địch chưa phải là chiến
công vĩ đại, mà người tự chiến thắng mình mới là người có chiến công
hiển hách. Tự chiến thắng mình là chiến thắng cái gì? Chiến thắng những
tập khí xấu của mình, những thứ quá đà, phiền não lôi thôi. Nhiệt tình
quá cũng đâm ra phiền não, lo lắng quá cũng sanh phiền não. Cái gì vừa
phải thì bình thản, muốn thế phải biết chỗ nên dừng. Đó là người biết
điều quân ra trận, khi nào tiến khi nào thoái, mỗi mỗi đều nhịp nhàng,
hợp thời hợp lúc, gọi là không sa đà thái quá.
Niềm tin tăng trưởng thì tất cả pháp lành sanh, diệt trừ mọi nghi
hoặc. Kinh nói “Lòng tin kiên cố, lìa cấu tâm, trừ sạch kiêu mạn, sanh
cung kính. Tin là kho báu pháp bậc nhất”. Nghĩa là người nào có lòng tin
kiên cố thì tất cả phiền não dứt sạch, sanh tâm cung kính Tam Bảo. Vì
thế tin là kho báu bậc nhất. Chủ trương của đạo Phật là tỉnh sáng, không
lầm lẫn và bị kéo lôi bởi những hiện tượng chung quanh. Thành ra người
vững niềm tin sẽ giảm thiểu những phiền bực rối rắm, những bất an trong
lòng.
Phiền não không phải từ đâu đến, mà từ trong lòng chúng ta dấy khởi.
Vì vậy nói tu tâm là mình nhìn thấy rõ ràng sắp xếp ổn định. Nói điều gì
gây sự bất ổn cho mình cho người thì ta không nói. Làm điều gì gây ảnh
hưởng không tốt cho mình cho người thì ta không làm. Lòng mình cứ bị
việc này việc kia xáo trộn thì làm sao trong sáng. Thành ra những gì
không đáng, không quan trọng, không phải việc chính yếu của sự tu hành
thì gác qua một bên, để tâm định tỉnh trong sáng, thì phiền não mới
không có chỗ cắm dùi được.
Người phát tâm tu hành, trước nhất phải có niềm tin kiên cố. Niềm tin
đó từ sự hiểu biết, thể nghiệm đạo lý mà ra, sau đó mới phát tâm tu
hành. Tu hành để làm gì? Để thành Phật, để hết khổ được vui. Phật tử nào
vô chùa lạy Phật nguyện con tu hành cho phát tài phát lộc là trái với
tinh thần đạo lý rồi đó. Phát tâm tu ở đây là phát tâm thành Phật, phát
tâm giác ngộ giải thoát. Phát tâm này khó lắm, vì chấp nhận mất tất cả
mới nhận lại được ông Phật của chính mình. Khi đã phát tâm lại phải kiên
cố trường viễn, chứ không thể dễ duôi được.
Quí vị thấy Tăng Ni vừa phát tâm xuất gia là tóc tai rụng hết rồi.
Nhát dao đầu tiên thầy Bổn sư để lên đầu với lời nhắc nhủ rằng tóc này
là ô nhiễm, là pháp thế gian, là phiền não cấu trược. Tự con không cạo
được, bây giờ thầy vì con mà cạo bỏ cho. Điều đó nói lên ý nghĩa một khi
ta đã phát tâm tu thì tất cả những quan hệ thế thường từ gia đình cho
đến bạn bè ngang đó cắt hết, không như hồi xưa nữa.
Đến giai đoạn thứ hai, phát tâm cắt đứt tất cả những ân ái ở thế
gian. Giai đoạn này bắt đầu khó rồi đó. Sợi dây luyến ái gia đình là một
thứ tình cảm rất khó bứt rời. Như người ta nói mẹ sanh ra con là cắt
núm ruột của mình, đau xót lắm. Tình cảm này buộc trói mình từ kiếp nào
tới bây giờ, không dễ gì trong giây phút mà có thể cắt đứt được. Đã
không cắt được thì cứ buộc ràng quấn quít nhau đời đời kiếp kiếp, cho
nên Phật nói chúng sanh trầm luân trong sanh tử là vậy. Muốn thành Phật
mà còn đem theo những sợi dây ân ái kiểu này thì luộm thuộm quá, làm rối
tung cõi Phật vốn thanh tịnh thì không được đâu. Cho nên xuất gia rồi
mà còn dính nhiều quá, chắc Phật phải cắm tóc lại cho mình thôi.
Người xưa thông minh lạ thường. Khi mình quỳ xuống cầu xin phủi tóc,
các Ngài đã nói đây là việc làm của các ông, tôi vì các ông mà cạo bỏ
râu tóc cho, chứ không cưỡng ép. Các ông tự làm thì sau này đừng than,
đừng nói tốt nói xấu nghe! Đó là các Ngài răn đe chúng ta hãy giữ vững
tâm dũng mãnh ban đầu. Hồi mới tu thì thấy như dứt khoát lắm, được thời
gian sau nay đau mai yếu, kiếm chuyện về thăm gia đình. Cứ thế dần dần
thối Bồ-đề tâm, thôi thì “tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là
đi tu”. Vậy là xong một đời. Chúng ta có nhiều lý lẽ ma mỵ lắm, vì vậy
con đường Phật đạo không khó mà trở thành khó.
Đến giai đoạn kế tiếp, người tu là hàng Thích tử của Như Lai nên
phải cắt đứt tất cả những quan hệ trong tam giới, gọi là xuất thế tục
gia. Giai đoạn này khó hơn nữa, làm hoài làm mãi, đời này làm chưa rồi,
đời sau làm tiếp, làm mãi cho tới chừng nào rồi mới thôi. Nghĩa là bao
giờ ta hoàn toàn làm chủ được mình, không còn kẹt trong bất cứ pháp nào,
dù là thế gian hay xuất thế gian. Khó thì khó nhưng chúng ta làm được,
chứ không phải không làm được. Làm như thế nào? Làm bằng con mắt trí
tuệ.
Con mắt trí tuệ là sao? Ví dụ nghe nói người đó đẹp, bây giờ ta không
nhìn bằng mắt thường mà nhìn bằng con mắt trí tuệ. Thấy thân người đó
được hình thành từ nhiều nhân tố, bên ngoài da phủ mịn màng nhưng bên
trong máu huyết tanh hôi, chưa kể đến đờm dãi xú uế thường tiết ra các
cơ quan bài tiết. Tìm thử xem cái đẹp từ đâu ra. Càng tìm càng thấy gớm,
thì làm sao say đắm thân thể ấy được. Thân người như vậy, thân ta cũng
chẳng khác, thế thì chấp nó thật là mình, quý trọng nó ở chỗ nào. Thế là
nhờ con mắt trí tuệ, ta thấy rõ bản chất duyên hợp, không thật, bất
tịnh của thân mà lìa được luyến ái. Như vậy tu đâu có quá khó!
Rồi bằng con mắt trí tuệ, ta thấy cuộc đời là vô thường, sớm còn tối
mất. Mạng người ngắn ngủi, nếu không nỗ lực tiến tu, một mai quỷ vô
thường đến đòi mạng, làm sao trở tay cho kịp. Đường trước tối tăm,
nghiệp thức mênh mang, chừng đó hận chẳng sớm lo liệu thì đã muộn rồi.
Cho nên người có trí tuệ là người có cái nhìn thấu đáo, biết lo xa,
chuẩn bị cho mình nơi đi chốn đến an ổn, không hoảng sợ bất an khi sống
cũng như lúc chết. Cho nên nếu khéo biết, thì việc tu có thể thực hiện
được tốt đẹp, bằng không biết thì tự mình đưa mình đến nẻo khổ thôi.
Tu là sửa. Sửa cái gì? Ví dụ hồi xưa mình thương nhiều quá, bây giờ
sửa lại, thương vừa vừa thôi. Hồi đó mình mê thích cái gì là theo chết
cái đó, bây giờ sửa lại thích vừa vừa thôi. Hồi xưa mình ghét cái gì
sống để dạ chết mang theo, bây giờ sửa lại ghét một chút thôi. Hồi xưa
mình thích nhà cao cửa rộng, ăn sang mặc đẹp, bây giờ sửa lại ở đâu cũng
được, ăn sao cũng ngon, càng giản dị càng tốt. Tu tập lần lần như vậy,
chắc chắn không sớm thì muộn chúng ta cũng sẽ đến được bờ Niết-bàn giải
thoát, không còn chìm đắm trong biển khổ sanh tử nữa.
Sở dĩ chúng ta khổ là vì không buông bỏ được, mà cứ gom góp thêm vào.
Ăn một bữa để dành trăm bữa. Gần chết mà của cải tài sản chưa sắp đặt
xong thì chết không yên. Phút lâm chung mà tâm vọng động dấy lên thì nó
kéo đi liền, trong lúc hốt hoảng, thần thức tối tăm, chui vào da lừa
bụng ngựa khổ càng thêm khổ. Trong kinh có kể câu chuyện thế này.
Một hôm Phật đi khất thực, ngang nhà một vị cư sĩ rất giàu có. Chủ
nhà ta đi vắng, con chó trong nhà thấy Phật sủa dữ. Đức Phật mới nói:
“Ngươi do lòng tham không buông được, mang thân lông lá, nằm giữ của như
vậy mà chưa tỉnh, còn làm dữ nữa”. Con chó nghe rồi buồn xo, nằm co lại
không ăn uống gì cả. Ông chủ đi về thấy con chó cưng của mình buồn xo,
hỏi ra mới biết đức Phật là nguyên nhân làm cho nó bỏ ăn bỏ uống. Ông
tức quá, liền đi tìm Phật. Gặp Thế Tôn, ông liền lớn tiếng hỏi:
- Sa môn Cù Đàm! Con chó của tôi giữ nhà tốt như vậy, bây giờ ông làm sao nó buồn đến bỏ ăn, tôi bắt đền ông đó.
Đức Thế Tôn để cho ông nói hết, rồi từ tốn giải thích:
- Con chó ấy là mẹ của ông đó. Ngày trước mẹ ông sắp qua đời, còn của
cải để trong cái hũ chôn dưới gầm giường, chưa kịp dặn ông. Vì tâm
luyến tiếc, một là thương ông, hai là thương của nên bây giờ phải đọa
làm thân chó nằm giữ của cho ông. Ông chẳng biết mẹ mình khổ sở tới bực
nào, lại còn lớn tiếng với Như Lai! Nếu không tin, ông về đào dưới gầm
giường lên sẽ thấy rõ.
Nghe đến đây, ông hoảng quá chạy ngay về nhà, theo lời đức Phật nói,
ông đào dưới gầm giường quả thật thấy những hũ vàng vẫn còn nằm đó.
Chừng ấy, ông mới đến khóc lóc năn nỉ đức Thế Tôn dạy cho cách cứu mẹ.
Đức Phật dạy ông những gì lâu nay buộc thì bây giờ mở ra. Con chó đã
được Phật khai thị, nó hiểu ra rồi nên đã thoát kiếp súc sanh. Ông về
chôn cất tử tế rồi phát tâm cúng dường, bố thí hồi hướng công đức ấy cho
mẹ. Đồng thời cũng mở rộng lòng ra, đừng tham luyến tài sản thế gian
nữa, làm lành lánh dữ. Như vậy mới mong sau này không khổ. Từ đó ông
Trưởng giả trở thành người Phật tử tín tâm kiên cố và hộ pháp rất đắc
lực.
Nhân quả rõ ràng như thế, dấy tâm động niệm không tốt thì sẽ bị buộc
ràng trong ba cõi. Cho nên Hòa thượng thường nhắc nhở chúng ta phải ráng
tu, phải tin hiểu Phật pháp một cách đúng đắn, rồi từng bước áp dụng
vào đời sống tu tập của mình. Áp dụng được, có công phu rồi sẽ được lợi
lạc thiết thực, điều này không nghi. Nói tin hiểu, nói phát tâm, là giai
đoạn chuẩn bị, bây giờ chúng ta phải bắt tay vào làm. Muốn hành đạo cho
có kết quả phải làm sao? Trong kinh dạy:
“Đạo không hình tướng, biết suông vô ích, cần phải thủ chí tu hành,
ví như người lau gương sạch bụi, gương sáng thì liền thấy bóng mình.
Người hành đạo mà dứt dục, chứng không, đạo chân thật hiện bày trước
mắt”. Đó là những lời dạy hết sức giản dị, mà cũng hết sức thiết yếu.
Nói đến hành đạo, Phật ví dụ như lau gương. Gương để lâu rồi, bên ngoài
bụi bám dầy đặc nên gương bị mờ, bây giờ nói lau gương, thật ra là lau
bụi. Người biết hành đạo là người biết lau bụi, tức hằng ngày hằng giờ
hằng phút giây lau cho sạch tất cả những bụi bặm phiền não bám trên
gương tâm. Lau sạch bụi rồi thì gương tự sáng, không thêm gì hết. Thật
ra, gương vẫn sáng từ hồi nào đến giờ, nhưng vì bụi bám nên ta không
thấy ánh sáng phát ra bên ngoài. Bây giờ lau cho hết bụi thì gương sáng
ngay.
Hành đạo cũng vậy, sở dĩ chúng ta niệm Phật, tụng kinh, ngồi thiền là
vì giặc phiền não quấy nhiễu loạn động quá. Muốn nó yên thì phải mượn
phương tiện để cột tâm lăng xăng lộn xộn lại, đừng cho nó phóng chạy ra
ngoài nữa. Khi các thứ vọng tưởng đã yên rồi, cái chân thật bên trong tự
hiện, đâu phải từ đâu đem đến. Tuy nhiên, nếu ta không tẩy rửa phiền
não, không để chúng lóng lặng xuống, thì không thể nhận ra mặt mũi thật
của mình được.
Chúng ta tu, phát tâm hành đạo thì đừng vướng mắc gì hết. Như đầm
nước trong hiện bóng con nhạn bay qua, Nhạn bay thì cứ bay, nó không có ý
lưu bóng trong đầm nước. Đầm nước trong hiện bóng nhạn thì cứ hiện,
cũng không có tâm giữ bóng chi hết. Như vậy cả đầm và nhạn đều vô tâm.
Chúng ta cũng vậy, trong đời sống có vô vàn việc phải làm. Phật Tổ cho
phép mình làm nhưng đừng dính mắc với nó. Làm sao lòng mình yên ổn như
đầm nước trong, mọi việc đến rồi đi, không lưu lại dấu vết gì. Cố gắng
trong hiện tại ta là bầu trời trong, là đầm nước trong, như vậy mình là
người có trí tuệ.
Chúng ta tu là sống trở lại phút ban đầu bình thường giản dị khi cha
mẹ mới sanh, không tính toan bận bịu trong lòng. Cho nên trong nhà thiền
thường nói đến “hạnh anh nhi” là vậy. Đừng đắm trước, đừng vướng mắc,
đừng bảo thủ, đừng có cái của mình. Từ chỗ bình thường mà nhìn thấy mọi
vật thì chân trời kiến đế mở ra, ta thấy đạo. Đạo lý không ở ngoài những
cái thông thường này. Thấy như thế, nói như thế, làm như thế, ăn như
thế, nghĩ như thế, đi đứng tiếp xúc ngoại giao tất cả đều như thế.
Sở dĩ mình lẩm cẩm, lẩn thẩn là vì cứ tụng đi tụng lại những hình ảnh
bên ngoài. Người tu phải cởi mở, buông hết, không để vướng mắc bất cứ
thứ gì. Đó là cách hành đạo hay nhất. Đi biết mình đi, ăn biết mình ăn,
thân này có rồi biết sẽ hoại, biết rõ như vậy, không đắm trước, không
vướng mắc, không ỷ lại. Biết như vậy là biết đúng chân lý. Điều này
không phải ai cho mình, mà tự mình gầy dựng, tự mình tu tập, tự mình
vững niềm tin, tự mình phát tâm và hành đạo.
Cuối cùng tôi mượn lời Phật dạy để kết thúc bài giảng hôm nay: “Đệ tử
ta, dù ở xa ta ngàn dặm, tâm nghĩ đến giới của ta mà tu thì được đắc
đạo. Trái lại dù kẻ ở bên cạnh ta mà tâm tà cũng chẳng bao giờ đắc đạo”.
Dẫn câu này cho tất cả chúng ta ý thức rằng, dù bây giờ mình cách Phật
quá xa, nhưng nếu thực hành đúng lời Phật dạy thì cũng như gần Phật.
Chúng ta vững niềm tin hành đạo thì nhất định sẽ đạt đạo. Đó mới gọi là
người biết ơn và báo ơn chư Phật.
Chúc toàn thể quý vị đầy đủ niềm tin vững tiến trên con đường Phật đạo