1. Lời mở đầu
Nghi
thức trợ niệm lúc lâm chung trong Phật Giáo được các bậc cao tăng Đại
Đức hoằng dương ở Đài Loan đã gần 20 năm nay, dần dần được đón nhận tích
cực và phụng trì của quảng đại quần chúng trong xã hội và trong giới
Phật Giáo tại Đài Loan. Nghi thức trợ niệm vốn là một phương pháp trợ
duyên vãng sinh Tây Phương Cực Lạc trong Tịnh Độ tông, do các vị đại sư
Ấn Quang, đại sư Hoằng Nhất cùng các vị cư sĩ đề xướng vào đầu thế kỷ
20. Năm 1951 tại Đài Loan có cư sĩ Lý Bỉnh Nam thành lập “Đài Trung Liên
xã”, năm 1986 có hai vị cư sĩ Trí Mẫn và Huệ Hoa tông Viên Giác (được
các Phật tử tôn kính xưng là hai vị thượng sư) thành lập Tịnh
xá Nặc Na Hoa Tạng, đem toàn lực hộ trì và phát dương nghi thức trợ
niệm lúc lâm chung. Nghi thức trợ niệm dần dần trở thành pháp môn tu tập
phổ biến được quảng đại dân chúng trong xã hội Đài Loan tiếp nhận và
hành trì.
2. Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng phát dương pháp môn trợ niệm tại Đài Loan
Cư
sĩ Tiền Học Mẫn - Phó chủ tịch tiền nhiệm Hội cư sĩ Phật Giáo Trung Hoa
tại Đài Loan (Trí Mẫn Kim Cang thượng sư) và phu nhân là cư sĩ Chu Tĩnh
Hoa (Huệ Hoa Kim Cang thượng sư) là hai vị sáng lập và trụ trì tịnh xá
Nặc Na Hoa Tạng, là trụ sở của toàn thể hội viên Hội cư sĩ Phật Giáo
Trung Hoa tại Đài Loan, bắt đầu hoạt động khai đàn hoằng dương Phật Pháp
từ năm 1980. Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng là một đoàn thể cư sĩ Phật Giáo tu
hành dung hợp hiển - mật giữa truyền thừa cổ phái Ninh Mã Ba của Mật
Tạng cùng với tinh hoa các tông phái Thiền Đại Thừa Trung Hoa, Mật tông
và Thiên Thai tông; trong đó, hạt nhân của pháp môn tu trì là coi trọng
sự khai triển Bồ Đề tâm và thực tiễn hành Bồ Tát đạo tự giác giác tha,
tự độ độ tha để đạt được Phật quả giác hạnh viên mãn, cũng chính là mục
tiêu cuối cùng hành Bồ Tát đạo của cư sĩ học Phật tại gia.
Hai
vị Trí Mẫn và Huệ Hoa vì bi tâm lân mẫn chúng sinh sinh tử trải qua
nhiều đời nhiều kiếp mà không được giải thoát. Mặt khác, trong hoàn cảnh
30 năm trước ở Đài Loan, pháp môn trợ niệm chưa được truyền bá rộng,
phong tục địa phương thủ cựu khiến đa số dân chúng chưa có quan niệm
chính tín Phật Pháp đối với những nghi thức lúc lâm chung; người sau khi
chết theo truyền thống tín ngưỡng của từng nhà hoặc phong tục địa
phương mà tổ chức tang lễ. Hai vị cảm nhận sâu sắc “thân người khó được”
lại muốn thực hiện lợi ích thực tiễn của Phật Pháp vào trong đời sống
văn hóa xã hội, không để mất đi cơ hội hiếm có được làm người, hi vọng
có thể giúp đỡ những người mất ngay lúc lâm chung trong đời hiện tại có
được cơ hội được Phật tiếp độ sau cùng, nên dốc sức cùng các vị đệ tử
thành lập đoàn trợ niệm.
Trong
suốt thời gian 30 năm hoạt động, Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng đã trợ niệm
cho nhiều người vãng sinh. Tính từ năm 2010 đến 12/2014, trung bình mỗi
năm hội tiến hành trợ niệm cho hơn 10.000 người, chiếm khoảng 7% số
người mất toàn Đài Loan. Bài viết phân tích hoạt động trợ niệm của Tịnh
xá Nặc Na Hoa Tạng, chứng minh trợ niệm là một pháp môn tu trì Bồ Tát
đạo hàm chứa cả tinh thần nhập thế độ sinh và xuất thế giải thoát của
người cư sĩ Phật Giáo.
3. Pháp môn trợ niệm đầy đủ tinh thần nhập thế độ sinh và xuất thế giải thoát của Lục độ Bồ Tát đạo.
Hai
vị thượng sư Trí Mẫn và Huệ Hoa từng khai thị với hội viên đoàn trợ
niệm rằng: “Bồ Tát độ sinh có muôn ngàn phương pháp, nhưng không pháp
nào nhanh chóng, phương tiện, thù thắng, triệt để, cứu cánh, đại chúng,
ít tốn lực mà thành tựu lớn bằng pháp trợ niệm lúc lâm chung để vãng
sinh Tịnh độ.” Do đó, có thể thấy được rằng trợ niệm lúc lâm chung không
chỉ là phương tiện nhập thế của Bồ Tát bi mẫn chúng sinh mà đồng thời
cũng là vì tự độ độ tha vãng sinh Tịnh độ, triệt để hoằng dương pháp môn
tu trì giải thoát cứu cánh này.
Hai
vị Trí Mẫn và Huệ Hoa cũng từng khai thị: “Trợ niệm là phương pháp độ
sinh trực tiếp và hữu hiệu nhất, là cùng tu Lục độ Ba-la-mật, là pháp
thù thắng nhất thể dụng song tu, công đức làm được ngày thường không
bằng 1/10 so với trợ niệm. Sao lại nói trợ niệm là pháp môn cùng tu Lục
độ Ba-la-mật? Vì người mà trợ niệm, tức Pháp thí; thanh tịnh thân, khẩu,
ý để trì chú độ tha nhân, tức là trì giới; bất luận thân tâm có mệt mỏi
cũng vẫn an nhẫn vì người trợ niệm, tức hành nhẫn nhục; lúc trợ niệm
không sinh vọng tưởng, một lòng vì muốn lợi tha, tức là tinh tấn; an trú
nơi tam thân mà tu (pháp, báo, hóa), tức là Thiền định thậm thâm; tam
luân thể không, như huyễn quán tha nhân vãng sinh nước Phật A Di Đà,
biết Tây phương chẳng lìa tự tánh, tức là trí tuệ vô thượng. Do đó nói
vì người mất trợ niệm thực là cùng tu Lục độ, công đức lớn nhất.”
Dưới
đây sẽ phân tích cụ thể hơn trợ niệm chính là thực tiễn Lục độ Bồ Tát
đạo, bao hàm tinh thần nhập thế độ sinh và xuất thế giải thoát:
3.1.
Trợ niệm tức bố thí Ba-la-mật: Pháp bố thí có thể đối trị bệnh keo
kiệt, tham lam. Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng từ ngày thành lập đoàn trợ niệm
đến nay hoàn toàn không thu bất kỳ chi phí nào, những hội viên trợ niệm
là xả bỏ thời gian, tinh thần, sức lực mưu cầu tiền tài, lợi ích thế
gian của chính mình để phụng hiến vì người mà trợ niệm. Đồng thời cũng
vì người mà tự cung cấp các Pháp bảo của Phật môn như đồ đạc trợ niệm,
máy niệm Phật, kim cang sa, đó chính là tài thí. Chẳng luận tu hành nông
sâu chỉ cần phát tâm Bồ Đề vì người mất trì tụng thánh hiệu A Di Đà
Phật và lục tự đại minh chú của ngài Quán Âm tức thì cảm ứng đạo giao,
người mất được Phật lực gia bị sinh về cõi nước Cực Lạc hoặc đạo nhân
thiên, đó chính là Pháp thí. Lại trong Kinh Địa Tạng nói: người lâm
chung mà nghe một lần danh hiệu Phật, tức sẽ không bị đọa ba đường ác,
như vậy khiến người mất tránh xa sợ hãi của đường ác, đó chính là vô úy
thí .
3.2.
Trợ niệm tức trì giới Ba-la-mật: Trì giới chính là để đối trị với các
pháp ác, như trong Kinh Lăng Nghiêm có nói: “nhiếp tâm chính là giới”.
Lúc trợ niệm, yêu cầu người trợ niệm phải chuyên chú niệm Phật, như vậy
về mặt giới luật mà nói thì không trì mà như trì, thân, khẩu, ý tự nhiên
tránh xa thập ác, không tạo ác nghiệp. Do đó, người trợ niệm ba nghiệp
thanh tịnh, một lòng lợi tha, tương ứng với tâm Bồ Đề trì giới thù
thắng.
3.3.
Trợ niệm tức nhẫn nhục Ba-la-mật: nhẫn nhục là để đối trị với sân hận.
Những vị hội viên tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng thời kỳ đầu phát khởi pháp môn
trợ niệm thường gặp phải chướng duyên là thân quyến người mất ý kiến
bất đồng, đến nơi lại bị từ chối, thậm chí đang tiến hành bị mời đi về,
lại có khi bị thân quyến người mất ở bên cạnh tranh chấp, hoặc tiếp đãi
lạnh nhạt… nhưng những vị phát tâm vẫn nhẫn nại nhu hòa khuyên giải lấy
việc giúp đỡ người vãng sinh làm trọng, đồng thời vẫn tiếp tục trợ niệm,
thuyết phục thân quyến người mất cùng đến trợ niệm, lại không kể mưa
gió nóng lạnh, thân tâm có mệt hay không vẫn tận tâm tận lực, đó chính
là tu nhẫn nhục Ba-la-mật.
3.4. Trợ niệm tức tinh tấn Ba-la-mật:
tinh tấn là để đối trừ với giải đãi, lười biếng. Dũng mãnh tinh tấn có
thể thành tựu viên mãn các thiện pháp. Người trợ niệm tức học hạnh Bồ
Tát xả bỏ hết thảy những việc không liên quan đến giải thoát sinh tử, xa
rời sự phóng dật, một lòng làm việc lợi ích cho người chẳng kể ngày
đêm. Đoàn trợ niệm của Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng có thể trợ niệm bất cứ
lúc nào không kể ngày đêm sáu thời, rất nhiều vị hội viên ban ngày đi
làm, công việc mệt nhọc nhưng vẫn tinh tấn không từ nan, đó chính là vì
độ chúng sinh mà tinh tấn không giải đãi.
3.5.
Trợ niệm tức Thiền định Ba-la-mật: Thiền định là để đối trừ tâm tán
loạn. Lúc trợ niệm, người trợ niệm nhiếp tâm vào Phật, không khởi vọng
tưởng, sáu căn đều nhiếp, chỉ trụ vào một cảnh giới duy nhất A Di Đà
Phật mà hành đại bi lợi tha, tương ứng với hóa thân Phật; trong thì xả
vọng niệm, tịnh niệm tương tục, khế hội với trí tuệ diệu tướng vô lượng
quang, vô lượng thọ, tương ứng với báo thân Phật A Di Đà; nếu như người
trợ niệm có thể niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, nhập Tam-ma-địa,
tức tương ứng với pháp thân Phật A Di Đà, đó chính là Thiền định thậm
thâm. Trong quá trình trợ niệm của Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng, người trợ
niệm khai thị người mất: “nhất tâm tưởng tượng hình tướng đức Phật A Di
Đà, giống như ánh quang minh của mặt trăng trong nước không có thực thể,
ánh quang từ nơi tâm đức Phật A Di Đà chiếu phóng bao quanh (người vãng
sinh). (người vãng sinh) cần biết rằng những chuyện xảy ra trong đời
đều như trong giấc mộng nên xả bỏ hết thảy, không phải nghĩ tưởng bận
tâm về nó. Thành tâm thành ý cầu đức Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh về
cõi nước Cực Lạc, rồi đi vào trong ánh quang minh nơi đức Phật A Di Đà,
dung hợp làm một với ánh quang minh ấy.” Người trợ niệm nên biết pháp
quán tưởng niệm Phật, đồng thời hướng dẫn người mất an trú trong ánh
Phật quang của Phật A Di Đà, đó chính như Thiền định Ba-la-mật.
3.6.
Trợ niệm tức Bát-nhã Ba-la-mật: trí tuệ Bát-nhã để đối trị với ngu si.
Trong lúc trợ niệm, người trợ niệm đối diện với quả báo cuối cùng của
người mất, chính là cơ duyên để quán sinh tử vô thường, tức trong lúc vì
người trợ niệm mà thể hội được yếu chỉ “chư hành vô thường, chư pháp vô
ngã” mà buông bỏ hết thảy chấp trước hư vọng. Lại lúc niệm Phật tuy
quán tưởng quang minh Phật Di Đà biến chiếu mà tiến một bước thể hội
tướng mà vô tướng, thể tính bản không, năng niệm là ta (bản thể), sở
niệm là người vãng sinh (đối tượng) đều là như huyễn, rồi cũng như huyễn
mà quán người mất vãng sinh cõi nước Cực Lạc. Tức là tam luân thể không
(bản thể - ta, đối tượng - người và hình tướng - pháp đều không vướng
mắc), quán ngược biết cõi nước Cực Lạc chẳng ngoài tự tánh mà hiển hiện,
cũng chính là thậm thâm Bát-nhã Ba-la-mật.
Các
vị trong đoàn trợ niệm của tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng khi trợ niệm khai
thị với người mất rằng: “trên thế gian hết thảy cũng chỉ là một giấc
mộng nên mời (người vãng sinh) hãy buông bỏ hết thảy chấp trước và ái
hận với mọi người, mọi sự việc trong lòng, đừng lưu luyến gì nhục thân
và thế giới này cả. Bất luận bây giờ hoặc tương lai nhìn thấy thứ gì
cũng cần biết đó tất cả đều là huyễn tướng phản ánh từ trong tâm mà ra,
giống như người nằm mơ nên đừng mê hoặc; nhất định không được có bất cứ
tâm niệm tham cầu, oán hận, chấp trước không xả bỏ gì, mà phải giữ một
tâm niệm lương thiện, kiền thành trong lòng.”
Thế
gian hết thảy đều là mộng huyễn, không gì mang theo được nên nhất định
phải buông xả mà toàn tâm niệm Phật, trì chú, mới có thể mong được chư
Phật tiếp dẫn. Bất luận gặp cảnh giới kinh hãi hay hỷ ái gì cũng cần nhớ
đó đều chỉ là những huyễn tướng trong tâm, không phải là thực. Tuyệt
không được sinh tâm tham ái, oán hận, mê hoặc, ngạo mạn, hoài nghi, tật
đố trong lòng; không truy cầu gì, cũng không chạy trốn, một lòng một ý
niệm Phật, trì chú.
Những
khai thị trên như Kinh Kim Cang nói: “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng
huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán.” Khiến cả
người trợ niệm và người vãng sinh trong giờ khắc sinh tử vô thường đó
đều thể hội được chân lý Bát-nhã chư pháp như huyễn mà buông bỏ hết thảy
chủng chủng chấp trước vọng tướng, vọng tưởng.
4. Lời kết
Kinh
Lăng Nghiêm có nói: “tự vị đắc độ, tiên độ nhân giả, Bồ Tát phát tâm;
tự giác dĩ viên, năng giác tha giả, Như Lai ứng thế.” – tức: chưa độ
được mình mà đã độ người khác trước, đấy chính là sự phát tâm của hàng
Bồ Tát; tự giác đã viên mãn, lại còn có thể giác ngộ người khác thì là
bậc Như Lai xuất hiện trong cõi đời. Phật đệ tử phát Bồ Đề tâm hành Bồ
Tát đạo, lúc chưa chứng thánh vị thì lực không đủ, muốn bằng sức mình để
độ sinh sợ rằng kiếp dài vẫn chưa viên mãn; nhưng may thay có 48 nguyện
đại từ bi của đức Phật A Di Đà, lúc sắp mất nhất tâm xưng danh nhớ niệm
tức đắc đới nghiệp vãng sinh. Do đó, tuy người chưa chứng thánh vị
nhưng phát tâm Bồ Đề vì tha nhân mà kiền thành trợ niệm, nếu người lâm
chung có thể theo đó niệm Phật giống như sắp chìm mà gặp bè gỗ, kiên trì
từng niệm đến cùng cầu sinh Tịnh độ tức thì cảm ứng đạo giao, trượng
nhờ Phật nguyện mà vãng sinh Tây bang Lạc quốc; tức phàm phu nhờ nguyện
lực Phật mà hành chuyện Như Lai độ hóa.
Thực
như lời hai vị thượng sư Trí Mẫn và Huệ Hoa từng nói: “độ một người
vãng sinh Tịnh độ tức thành tựu một đức Phật. Độ trăm nghìn người vãng
sinh Tịnh độ tức trăm nghìn người thành Phật. Phàm phu chúng ta nếu muốn
độ một người thành Phật, có lẽ nghìn đời vạn kiếp vẫn khó thành, nhưng
nay có phương pháp giản đơn khiến chúng ta có cơ hội lợi ích chúng sinh,
độ người đến nơi cứu cánh sau cùng, đồng thời cũng thành tựu công đức
vãng sinh sau này của chính mình. Đó không đáng để chúng ta dốc sức nỗ
lực sao?”
Pháp
trợ niệm thực là pháp môn thù thắng bao hàm cả tinh thần nhập thế độ
sinh và xuất thế giải thoát, đáng được mỗi vị hành giả hành Bồ Tát đạo
chú tâm phụng hành và thực hiện.
Bảng thống kê trợ niệm của Tịnh xá Nặc Na Hoa Tạng tại Đài Loan từ năm 2010 - 2013
Năm
|
2010
|
2011
|
2012
|
2013
|
Số người trợ niệm (người)
|
25441
|
27203
|
28780
|
30374
|
Số người mất (người)
|
10246
|
10907
|
11262
|
11348
|
Thượng tọa Thích Giải Hiền
Giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội - Hội trưởng Hội Sự Nghiệp Từ Thiện Minh Đức
(Dịch từ tham luận của cư sĩ Trần Thanh Hán – Chủ tịch Hội cư sĩ Phật Giáo Đài Loan tại diễn đàn cư sĩ Phật Giáo thế giới lần thứ 4)