Vài nhận định của các triết gia, nhà nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo
05/01/2013 14:44 (GMT+7)

Trong bản “luận văn tốt nghiệp” của Thiện Huệ, do Giáo sư Minh Chi hướng dẫn và chấm. Giáo sư phê:  “Luận văn đạt yêu cầu về công phu nghiên cứu và sưu tầm tài liệu. Nên tránh phê phán các tôn giáo khác với lời lẽ nặng nề”.

Giáo sư đã biết lời lẻ nặng nề thì không nên cho “xuất xưởng” mà cần đưa qua “Hội đồng Điều Hành” điều nghiên. Đây là một sơ suất của Giáo sư. Bởi vì , trong một bài viết về Hòa Hảo, thời gian trước khá lâu, chính Giáo sư công tâm và vô tư nêu lên nhận xét : “5 lý do phát triển ngoạn mục của Phật giáo Hòa Hảo”:

1. Minh Chi, nhà nghiên cứu Phật Giáo

NĂM LÝ DO PHÁT TRIỂN NGOẠN MỤC CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO (trích trong Tạp chí Xưa & Nay, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, số 214 tháng 06 năm 2004)

Từ năm 1939 đến 1944 tín đồ Hòa Hảo đã phát triển lên đến 5 triệu người. Con số 5 triệu tín đồ xuất xứ ở đâu, có đáng tin cậy không ?

Chúng ta đặt nghi vấn là phải. Bởi lẽ ngay các con số thống kê tín đồ các tôn giáo lớn trên thế giới, mặc dù in thành sách trong các tự điển bách khoa tôn giáo, như cuốn “Word Chrishan Encyclopedia”(Tự điển bách khoa Kitô giáo thế giới) do Oxford  xuất bản,hay cuốn “Dictionaire des Religions “của Paul Poupart xuất bản, cũng đều bị các học giả đặt nghi vấn. Lý do dễ hiểu, niềm tin tôn giáo là chuyện sâu kín trong lòng mỗi người, khó mà thống kê chính xác, chỉ có thể thống kê đại khái với sai số hàng vạn, thậm chí hàng triệu.

Còn con số 5 triệu tín đồ Hòa Hảo, tôi trích trong cuốn “Print and power “(In ấn và quyền lực) của tác giả Shawn Frederick Mc Hale, đại học Hawai xuất bản, trang 4. Hơn nữa trong con số 5 triệu, phải kể cả tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương, đã từng đi theo Phật Thầy Tây An, Đức Phật Trùm, ông Sư Vãi bán khoai v.v…

Nhưng phải đến khi Huỳnh Phú Sổ bắt đầu truyền đạo, con số tín đồ mới tăng vọt.

Vào năm 1939, Huỳnh Phú Sổ lúc bấy giờ còn là một thanh niên 19 tuổi, tự tuyên bố mình là giáo chủ ; là phái viên của đức Phật ở cõi đời này, kêu gọi mọi người sống thiện và tin theo tôn giáo của ông rao truyền.

Trong bài này, tôi chỉ nói lên điều tâm đắc của tôi về “Sự thành công ngoạn mục của một tôn giáo - Đạo Phật Giáo Hòa Hảo “do Huỳnh Phú Sổ đề xướng năm 1939, khi ông còn là thanh niên 19 tuổi, chỉ không đầy 5 năm, tức năm 1944 đã đạt con số tín đồ 5 triệu. Tài liệu nước ngoài và trong nước đều nhất trí xung quanh con số 5 triệu.

Câu hỏi “Nguyên do ở đâu”. Câu hỏi đã nhận được nhiều câu trả lời mà tôi xin phép khái quát lại như sau:

1- Khéo khai thác truyền thống kể chuyện miệng bằng thơ ở Nam bộ:

Một lý do là đạo Hoà Hảo biết khai thác – có thể là một cách tự nhiên, không cố ý - truyền thống kể chuyện miệng của đồng bằng miền Tây Nam bộ. Phải chăng, với một quần chúng đa số là nông dân ít học, lối truyền giáo bằng thi ca, bằng vè là thích hợp nhất, bởi vì dễ nghe, dễ nhớ.

Tôi trích dẫn dưới đây một vài vần thơ do ông Huỳnh Phú Sổ sáng tác và được lưu hành rộng rãi :

“Non sông rực rỡ chói ngời

Mảnh gương Phật đạo soi đời cổ kim”

“Theo đòi gương phẩm Thích Ca

Dốc đem tâm chí tìm ra đạo mầu"

“Ta thừa vưng sắc lệnh Thế Tôn

Khắp hạ giới truyền khai đạo pháp“

Người ta nói Huỳnh Phú Sổ ít học (chỉ đến bậc tiểu học). Nhưng các bài sấm vè của ông dùng rất nhiều từ Hán Việt, từ Phật học, chứng tỏ một trình độ Phật học cao, một sự vận dụng kho từ Hán Việt phong phú. Đó lại là một ẩn số nữa của Huỳnh Phú Sổ.

2- Đạo Hoà Hảo tuy về mặt giáo lý, chủ yếu dựa vào đạo Phật, nhưng về mặt tổ chức lại chịu ảnh hưởng của phương Tây:

Thí dụ Hòa Hảo thành lập đảng chính trị, sử dụng phương tiện in ấn để truyền đạo. Sử liệu đạo Hòa Hảo cho biết, từ năm 1939 đến 1965, nhiều bài giảng của Huỳnh Phú Sổ tái bản hơn 200 lần, với tổng số bản in là 800.000 bản.  Phải chăng đây là một lý do nữa giải thích sự thành công nhanh chóng và ngoạn mục của đạo?

3-Mùi vị “tận thế “(Apocaliptic) của giáo lý được rao giảng:

Huỳnh Phú Sổ tuyên bố nhân loại đang ở trong thời kỳ : “Hạ ngươn “là kỷ nguyên của tội ác hoành hành, chiến tranh liên miên, thiên tai dồn dập, bệnh dịch cùng khắp. Huỳnh Phú Sổ viết “Thiên tào đã xét định, khắp chúng sanh trong thế giới, trong cái buổi Hạ ngươn này, say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh gây nên nghiệp quả, luật trời đã trị tội v.v…”(Xem “Tôn chỉ hành đạo Phật Giáo Hòa Hảo của Đức Huỳnh Giáo Chủ “, trang 7, NXB Tôn giáo, 2002).

Đúng như vậy, thời kỳ Huỳnh Phú Sổ bắt đầu truyền giáo là thời kỳ bắt đầu cuộc đại chiến thế giới thứ hai, với những tổn thất nhân mạng và tài sản không kể xiết. Vì là một cuộc đại chiến thế giới , cho nên Việt Nam lúc bấy giờ là thuộc địa và xứ bảo hộ của Pháp, cũng bị họa lây và trở thành chiến trường xung đột giữa Pháp và Nhật, trở thành hậu phương góp công cho cuộc chiến tranh Đại Đông Á do đế quốc Nhật khởi xướng. Nạn đói khủng khiếp làm hơn hai triệu người Việt Nam chết năm 1945 là con đẻ của tình hình này .Trong một thời kỳ nhiễu nhương, tội ác, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, đói kém, dân chúng khốn khổ lầm than như vậy, thì lời kêu gọi của giáo chủ Hòa Hảo, mang hình thức sấm truyền, tất nhiên là có một sức hấp dẫn đặc biệt. Nhưng theo chúng tôi  nhận định 3 lý do trên là lý do phụ. Hai lý do 4 và 5 là chủ yếu.

4- Phật Giáo Hòa Hảo coi nhẹ hình thức, bồi dưỡng đức tự tin ở bản thân, đơn giản hóa nghi lễ, coi trọng lối hành đạo gần gũi dân chúng, đặc biệt là dân chúng nghèo

Huỳnh Phú Sổ đích thân chữa bệnh - kể cả những bệnh hiểm nghèo mà theo sử liệu để lại, ông đã thành công trong nhiều trường hợp. Ngày nay, với nền y học hiện đại, với những thành tựu mới, vang dội về khoa chữa bệnh bằng tâm lý (Psycho therapy), phải thừa nhận ảnh hưởng lớn của trạng thái tâm lý người bệnh đối với việc chữa bệnh. Trong cuốn “Con người, một ẩn số “(L’Homme, cet inconnu “), tác giả bác sĩ Carrel (giải thưởng Noben) đã nêu một số trường hợp do ông đích thân quan sát người mắc bệnh hiểm nghèo đã được chữa khỏi bệnh, chỉ dựa vào niềm tin và cầu nguyện mà thôi. Đấy là những chuyện cá biệt, nhưng có thực, xảy ra không phải riêng cho Thiên Chúa giáo mà cho nhiều tôn giáo khác.

Nhưng ở đây, chúng ta đang nói về Phật Giáo Hòa Hảo. Thành công ngoạn mục của đạo Hòa Hảo, trong một thời gian ngắn, từ 1939 đến 1944 đã đưa con số tín đồ lên 5 triệu, không phải chỉ ở nội dung giáo lý dễ hiểu, hình thức giáo lý dễ thực hành, mà còn ở tác phong của người truyền giáo nói và làm đi đôi, lý thuyết và thực hành nhất trí. Một tác phong mà trước Huỳnh Phú Sổ, các lãnh tụ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có liên quan mật thiết với đạo Hòa Hảo đã làm rồi như Phật Thầy Tây An, đức Phật Trùm, Sư Vãi bán khoai.

Nói một cách khác, các lãnh tụ truyền giáo Hòa Hảo không phải chỉ rao giảng giáo lý của họ, mà toàn bộ cuộc sống của họ là hiện thân của giáo lý đó, không những họ giảng hòa hiếu mà thực sự họ sống hòa hiếu, và khi họ giảng và sống hòa hiếu, họ tin là quần chúng tín đồ đi theo họ, đều muốn và sống hòa hiếu như họ. Hãy hỏi : Ai dù là tín đồ hay không phải tín đồ Hòa Hảo, ai lại không muốn sống hiếu thuận với ông bà tổ tiên, ai lại không muốn sống hòa hài đoàn kết với hàng xóm, láng giềng, bè bạn ? Phải chăng, một bí mật của sự thành công ngoạn mục của đạo Hòa Hảo là các nhà truyền giáo của họ đã rao truyền một giáo lý mà cả đời họ là hiện thân sống động : Cái gì họ nói là họ sống, họ làm ; cái gì họ làm họ sống thì họ mới nói, theo đúng phương châm “Ngôn hành hiệp nhất “của triết gia Vương Dương Minh đời Tống, tuy rằng họ có thể không biết  Vương Dương Minh là ai.

Họ có thể không biết Vương Dương Minh là ai, nhưng giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, tự tuyên bố mình là đệ tử của Phật Thích Ca rất có thể đã ghi lòng tạc dạ lời Phật Thích Ca giải thích Như Lai, tức Phật là gì ?

“Này các Tỳ kheo, Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy. Ví rằng nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên được gọi là Như Lai “(Tiểu Bộ kinh, tập 1, bản dịch của HT. Thích Minh Châu, trang 509).

Trong sách Phật giáo, có từ thân giáo, nghĩa là lấy tự thân mình làm gương sáng giáo dục cho người khác. Không những các lãnh tụ như Phật Thầy Tây An và đức Huỳnh Phú Sổ thực hành như vậy, mà mỗi tín đồ Hòa Hảo đều làm như vậy. Họ đều thực hành thuyết bốn ân, sống hòa hiếu với cha mẹ, tổ tiên,  hàng xóm láng giềng v. v … Họ truyền đạo không chỉ bằng lời nói, mà bằng cuộc sống cả đời họ, cuộc sống hằng ngày của họ. Phải chăng nhờ đó mà đạo Hòa Hảo lan truyền rất nhanh từ năm 1939.

5- Kết luận:

Sự thành công ngoạn mục của Phật Giáo Hòa Hảo, chủ yếu còn  ở chỗ, từ tiền thân của nó là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cho nên năm 1939, khi với Huỳnh Phú Sổ, nó mang tên chính thức Phật Giáo Hòa Hảo - tức là Phật giáo ở làng Hòa Hảo, luôn luôn các thế hệ giáo chủ đều khẳng định “cốt lõi giáo lý của đạo Hòa Hảo chính là giáo lý của Phật Thích Ca tuy cội nguồn ở Ân Độ, nhưng đã được truyền đến nước ta vào những năm đầu Công nguyên, tức là một tôn giáo có truyền thống hơn 19 thế kỷ của một đạo dân tộc, hòa vận mệnh của mình vào vận mệnh của dân tộc, đến mức thi sĩ cận đại Hồ Dzếnh có câu thơ :

“Trang sử Việt/ Đồng thời là trang sử Phật/ Trải qua bao độ hưng suy/ Có nguy mà chẳng mất."

Hay là hai câu thơ của thi sĩ Huyền Không: Mái chùa che chở hồn dân tộc/ Nếp sống muôn đời của tổ tông.

Thơ ca có phần thi vị hóa thực tế. một phần nào huyền thoại hóa thực tế, nhưng cốt lõi của thực tế vẫn được bảo tồn, cùng với bản sắc dân tộc. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào buổi tiếp đoàn đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam sau ngày mới thành lập (1981), có nói một câu mà không rõ vì sao báo chí lúc bấy giờ không nhắc tới : “Trong bụng người Việt Nam nào cũng có ông Phật “. Phật giáo Hòa Hảo tự nhận mình là kế tục đạo Phật,

Không có một tín đồ Hòa Hảo nào phủ nhận sự kiện này, trái lại còn lấy đó làm tự hào. Cuốn “Để hiểu Phật Giáo Hòa Hảo “của Thanh Sĩ và Vương Kim, in ngay ở trang bìa 4 câu thơ :

Phật xuất An Giang đủ phép mầu

Giáo truyền Phật Thích rất cao sâu

Hòa trong sanh chúng gieo điều thiện

Hảo ý đưa về kiến Bửu Châu

Quan hệ giữa đạo Phật nói chung và Phật Giáo Hòa Hảo nói riêng trên bình diện giáo lý và thực hành là một đề tài rộng lớn, không thể bàn ở đây. Chúng tôi chờ đợi ở quý học giả của Phật Giáo Hòa Hảo một công trình khoa học có tầm cỡ về chủ đề này.

Không riêng  nhà Phật học Minh Chi, còn nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu khác như Phạm Công Thiện, đã viết về Đức Huỳnh hoặc về Phật Giáo Hòa Hảo:

2. Phạm Công Thiện (Nguyên Giáo sư triết học Đại học Vạn Hạnh Saigon)

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ LÀ MỘT TRIẾT GIA VIỆT NAM (lược trích trong “Phật Giáo Hòa Hảo trong dòng lịch sử dân tộc “, Nguyễn Long Thành Nam, Đuốc Từ Bi xuất bản 1991)

Có lẽ không ai mà không biết Đức Huỳnh Phú Sổ là Đức Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng ít ai biết rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là một triết gia Việt Nam. Chẳng những thế, không phải chỉ triết gia Việt Nam như bất cứ một triết gia nào xứng đáng được gọi là “triết gia “mà Đức Huỳnh Giáo Chủ lại đúng là một minh triết, một thánh triết, trong mọi ý nghĩa cao siêu nhất của danh từ. Khi tình cờ đọc một bộ từ điển bách khoa có thẩm quyền nhất thế giới, bộ Encyclopaedia Britannica, dở qua cuốn 6, trang 181, tôi thấy tên tuổi và cuộc đời sự nghiệp của Đức Huỳnh Giáo Chủ chiếm trên nửa cột chữ in nhỏ trên trang giấy tự điển, mấy hàng chữ đầu đã đập mạnh vào mắt tôi : “Huynh Phu So is a Vietnamese philosopher … “Hiển nhiên mấy hàng chữ tiếp tục cũng xác định thêm rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là nhà cải cách Phật giáo và nhà sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng chính điều xác định đầu tiên của Encyclopaedia Britannica đã làm tôi chú ý đặc biệt : “Huỳnh Phú Sổ là triết gia Việt Nam  …”Mặc dù tôi có thói xấu giống như Aldous Huxley là hay thích đọc tự điển như đọc tiểu thuyết (Aldous Huxley rất say mê đọc bộ Encyclopaedia Britannica), nhưng không phải bất cứ cái gì tự điển đã định nghĩa thì tôi tin ngay lập tức ; bản tính cố hữu của tôi là ngờ vực tất cả định nghĩa của tất cả tự điển và từ điển. Tuy nhiên, lúc thấy Encyclopaedia Britannica gọi Đức Huỳnh Phú Sổ là “triết gia Việt Nam “thì tôi bỗng ngừng lại và bắt đầu suy nghĩ. Bao nhiêu âm hưởng bất ngờ xoáy tròn xung quanh một danh từ quen thuộc.

Từ lâu, tôi đã có thói quen nghĩ rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ là một thiên tài tôn giáo dân tộc, là một đại Bồ Tát trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, là tất cả những gì đáng tôn kính trong vị thế của một Giáo chủ  một tôn giáo gồm nhiều triệu tín đồ ở Việt Nam. Nhưng tôi chưa nghĩ đến khía cạnh “triết gia “của Huỳnh Giáo Chủ. Hiển nhiên tất cả mọi Giáo chủ tôn giáo đều là triết gia ở một bình diện nào đó, và tất cả mọi triết gia ở trên tất cả bình diện đều không thể là Giáo chủ được, nếu người ta hiểu được tính thể chân chính của triết lý như là triết lý. Một triết gia  có thể là một triết gia về tôn giáo với một nền tảng triết lý về tôn giáo, nhưng một nhà tôn giáo học không hẳn bị bắt buộc phải là một triết gia, và nhất là một nhà tu hành tôn giáo và nhất là một Giáo chủ tôn giáo lại không nhất thiết phải cần đến một triết lý nào cả, nhất là thứ triết lý kinh viện nhà trường. Tuy nhiên nếu triết lý được hiểu là triết lý trong tất cả mọi ý nghĩa toàn diện của triết lý thì không có ai có thể chạy thoát ra ngoài cái vòng tròn khủng khiếp của triết lý, dù triết lý được hiểu theo nguyên nghĩa Philosophia hay được hiểu theo nguyên nghĩa Minh triết Đạo lý của Đông phương. Nếu được hiểu theo nghĩa nguyên vẹn toàn diện thì Đức Huỳnh Giáo Chủ đúng là một triết gia Việt Nam vĩ đại mà chỉ có người nào nắm trọn tất cả triết lý Tây phương và đạo lý Đông phương thì mới có khả năng nhìn thấy được tất cả ý nghĩa ẩn hiện của bốn chữ triết lý Việt Nam.

Một thanh niên Việt Nam mới 20 tuổi mà đã cưu mang tất cả sức nặng bí ẩn của đạo lý Đông phương, đã thể hiện tất cả khả tính có thể có được của tư tưởng Việt Nam, đã thể hiện trọn vẹn tất cả tinh tuý của Mật tông, Thiền tông và Tịnh độ tông, đã thành tựu oanh liệt truyền thống Thiền Lý Trần và Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam, đã nối kết lại tinh thần Phật giáo nguyên thuỷ với đại nguyện và đại hành của lý tưởng Bồ Tát trong Đại thừa, đã đốt cháy lại ngọn lửa thiêng trao truyền từ lục tổ Huệ Năng , đã gây dựng lại với hai bàn tay trắng tất cả những gì cao siêu nhất của dân tộc và của nhân loại trong sự nghiệp tư tưởng và hành động của mình, đã nuôi dưỡng đời sống tâm linh và hùng khí dân tộc cho bao nhiêu triệu người Việt Nam. Một người như thế, chẳng những là một triết gia Việt Nam thôi, mà chính là minh triết, thánh triết cho cả nhân loại.

3. Giáo sư Phạm Cao Dương (Nguyên Giáo sư Sử học Đại học Sư phạm và Văn khoa Saigon):

PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CHỦ TRƯƠNG CHẤN HƯNG XÃ HỘI

Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử Phật giáo nói riêng trong những năm cuối của thời kỳ Pháp thuộc, đúng hơn là trong hai thập niên ba mươi và bốn mươi, đã được đánh dấu bởi hai biến cố vô cùng quan trọng. Đó là sự phát sinh của phong trào chấn hưng Phật giáo truyền thống, và sự hình thành của Phật Giáo Hòa Hảo. Cũng là Phật giáo, nhưng hai phong trào này đã có những hoàn cảnh xuất hiện khác nhau, những chủ trương khác nhau, những đường hướng khác nhau, những điều kiện phát triển khác nhau, do đó, đã mang lại những thành quả khác nhau. Có điều cả hai đều đã góp những phần vô cùng tích cực vào sự hình thành của một nền Phật giáo Việt Nam thuần tuý sau khi tôn giáo này đã du nhập vào nước ta từ hơn mười thế kỷ…..

Nhưng Đức Thầy đã không chỉ chú trọng tới sự suy đồi của Phật giáo mà thôi, Ngài còn chú trọng nhiều hơn tới tình trạng suy đồi của toàn thể xã hội Việt Nam về nhiều phương diện, trong đó có sự suy đồi của cuộc sống đạo đức theo quan niệm bình thường và theo quan niệm của Khổng giáo. Ưu tư về sự suy đồi của đạo đức xã hội này đã được Đức Thầy nói tới rất nhiều trong Sấm giảng. Suy đồi trong quần chúng cũng như suy đồi trong hàng ngũ giới trí thức mới, trong giới trẻ cũng như giới già. Một sự suy đồi đến độ cùng cực khiến cho Đức Thầy phải than rằng:

Chẳng có người nào tu niệm hiền lương. (Sấm giảng Khuyên người đời tu niệm,câu 768)

Vì bá tánh thì “nghinh tân yểm cựu"/ Phụ mẹ cha khinh rẻ Phật Trời,/ Chẳng có kể công sanh, dưỡng dục. (Kệ Dân của Người Khùng, câu 83-84)

4. Trần Nguyên Bình, Giáo sư Sử học

NHẬN THỨC PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Phật Giáo Hòa Hảo hưởng ứng lời kêu cứu thiết tha của lịch sử dân tôc và lịch sử loài người đứng ra nhận lãnh một sứ mạng. Sứ mạng đó là võ trang tinh thần cho nòi giống để chặn ngăn mọi luồng tư tưởng tà nguỵ từ bốn phương tám nẻo tràn vào, rồi đứng lên trên cái ưu thế của dân tộc Việt đã được giác ngộ qua cơn khói lửa triền miên, mà thiết lập một “niết bàn nơi hạ giới  “cho loài người….

Trong hoàn cảnh đó quân Pháp đến nước ta. Chúng ta có thể đoán ngay rằng thế nước không thể nào giữ được. Một ít phát súng đại bác là quân địch hạ được thành. Những vị anh hùng chỉ còn biết tuẫn tiết để khỏi sống trong cái nhục mất nước. Rồi khi quân Pháp đã đặt được nền móng đô hộ, xã hội lại càng thối nát thêm.

Dân chúng sống trong mê tín dị đoan. Nơi góc tường này, dưới gốc cây đa kia, người ta thấy nhan nhãn những bàn thờ ông thần, bàn thờ bà chúa. Ốm đau người ta không lo chạy chữa thuốc thang, mà chỉ lo đi cúng đền này phủ nọ, xin tàn hương nước thải về uống, hoặc lập đàn cúng kiếng rước thầy bùa ếm quỷ ếm ma. Có việc khó khăn, người ta không nghiên cứu lẽ thành bại, mà lại đi coi bói toán, hay đi xin quẻ xin xâm. Rượu chè cờ bạc đàng điếm hoành hành khắp nơi. Người ta ca ngợi những ai tiền nhiều bạc lắm, ngày tháng rong chơi, ăn xài lớn. Tất cả những thứ đó, người Pháp  không làm gì để bài trừ, lấy cớ họ là dân chủ, không xen vào đời sống riêng tư vào những tục lệ cổ truyền của dân “bản xứ “.

Nguy hiểm và độc địa hơn nữa là họ đem nước ta cắt ra làm ba khúc, dưới cái danh hiệu ai oán và nực cười là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Mỗi nơi có một nền hành chánh khác nhau để cho sự khác biệt giữa cá tính địa phương (nước nào chẳng có ?) mỗi ngày một sâu đậm hơn. Những xu hướng Nam kỳ tự trị hay Nam kỳ quốc đều là hậu quả của chính sách độc ác chia để trị của thực dân. Hoàn cảnh bi đát ấy của đất nước lồng môt hoàn cảnh quốc tế rất bấp bênh trước một viễn ảnh sắp đổ vỡ tan tành, có thể chôn vùi cả nền văn minh nhân loại. Đó là viễn ảnh thế chiến thứ hai.

Để cứu vãn tình thế của nước nòi, rộng ra cứu vớt loài người. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời, với sứ mạng đem đuốc từ bi đốt cháy mọi mê lầm để dẫn dân Việt từ chỗ đại bi đến đại giác, đứng lên làm cách mạng bằng một đại hành hoàn thành đại đạo cho toàn dân.

Lý tưởng Phật giáo thật là thích hợp với tư tưởng cốt cán của dân tộc ta, mà Phật Giáo Hòa Hảo lại là một luồng tư tưởng tổng hợp Phật Khổng Lão, một thứ tổng hợp gạn lọc qua tinh thần Tiên Rồng đã làm cho nước nhà thoát ra khỏi âm mưu diệt chủng của người phương Bắc mà thành một quốc gia có một văn hóa riêng biệt, nó chối bỏ tất cả những thứ văn hóa nô dịch, nhưng luôn luôn sẵn sàng hấp thu những tinh hoa của nền văn hóa khác, để tự do dân tộc, tập trung nhân lực, tài lực, vật lực, vùng lên cao cả và đại hùng hoàn thành sứ mạng, thiết lập một “niết bàn nơi hạ giới “. Chỉ lúc đó và chỉ sau lúc đó, Phật Giáo Hòa Hảo mới hoàn thành được sứ mạng của mình: Chừng ấy mới tịnh vô nhứt vật,/ Bụi hồng trần rứt sạch cửa không,/ Chuông linh ngân tiếng đại đồng,/ Ta bà thế giới sắc không một màu.

5. Học giả Nguyễn Hiến Lê

Trích HỒI KÝ CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN HIẾN LÊ

Hai anh Tân Phương và Việt Châu (**) đều như tôi rất mừng khi Nhật đổ bộ lên Sàigòn, mong Nhật đuổi Pháp đi, nhưng không thích gì Nhật, không học tiếng Nhật. Tân Phương không làm chính trị, mà Việt Châu cũng vậy, nhưng Việt Châu không nhớ do một cơ hội nào được nghe Thầy Tư Hòa Hảo (tức Huỳnh Phú Sổ) xuất khẩu thành thi, lấy làm lạ, nhất là thấy Thầy như có một ma lực gì kỳ dị, thu phục được rất nhiều người, nên từ ngạc nhiên sinh ra ngưỡng mộ.

Việt Châu bảo tôi : “Con người đó thật kỳ dị. Mỗi ngày ngồi xe hơi đi mấy trăm cây số, diễn thuyết hai ba nơi, mỗi nơi nói thao thao bất tuyệt trong hai, ba giờ ở giữa trời, trước một đám đông nông dân hằng ngàn người, ai nấy im phăng phắc như nuốt từng lời một, có kẻ khóc mướt nữa. Có lần đương diễn thuyết thì trời đổ mưa, Thầy Tư vẫn nói mà dân chúng vẫn đứng nghe dưới mưa. Lần nào diễn thuyết xong rồi cũng lên xe đi nơi khác liền, không thấy mệt nhọc, vẫn ung dung làm thơ. Mà ăn rất ít, toàn đồ chay. Sinh lực sao mà dồi dào thế ! Sức lôi cuốn, thôi miên quần chúng sao mà mạnh thế “

Tôi cũng rất ngạc nhiên, cho là một dị nhân, và tôi bỗng nhớ tới Raspoutine  thời Nicolas 2 ở đầu thế kỷ, nhưng không nói ra. Raspoutine cũng có sức mạnh phi thường, cũng cò tài thôi miên, nhưng đời sống bê bối, hình dáng ghê tởm, rõ là một nhân vật bất thường, còn Huỳnh Phú Sổ thì ai cũng phục là người nghiêm trang, đạo đức.

6. Trích dịch từ BỘ TỰ ĐIỂN BÁCH KHOA UY TÍN THẾ GIỚI BỘ (Encyclopaedia  Britannica) - Anh Quốc

Huỳnh Phú Sổ là một triết gia Việt Nam, là người chủ trương chấn hưng Phật giáo và là người sáng lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm 1939.

Ông bắt đầu thuyết giảng về sự chấn hưng nền Phật giáo, chủ trương sự quay trở lại tinh thần Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa phái : Đạo của những người đã có thành quả tu tập) và nối kết với tư tưởng đại thừa thịnh hành khắp Việt Nam, Ông đề cập sâu đến cách sống mộc mạc, bền bỉ, cùng hình thức thờ cúng đơn giản và sự tự giải thoát. Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là một sự kết hợp giữa đạo Phật và truyền thống thờ cúng  Tổ tiên cùng với những nghi thức nuôi dưỡng đời sống tâm linh, cùng những tinh tuý của Khổng giáo và những sinh hoạt thực tiễn phù hợp bản xứ người Việt Nam.

Bằng lời nói của mình, Ông có khả năng cuốn hút thính gỉả một cách mãnh liệt và được biết đến dưới danh hiệu Ông “Đạo Khùng “. Ông đã tiên đoán chính xác sự thất bại của Pháp trong thế chiến thứ hai và sự xâm chiếm của người Nhật ở Đông Dương.

Sự thành công của Ông trong vai trò một vị Giáo chủ đã khiến cho những người tín đồ gọi Ông là Phật Sống.

Nguyên văn bản tiếng Anh: Huynh Phu So, Vietnamese philosopher, Buddhist reformer, and founder (1939) of the religion Phat Giao Hoa Hao:

He set about preaching Buddhish reform, advocating a return to Theravada (Way of the Elders) Buddhism, from the Mahayana (Greater – Vehicle) form prevalent in Vietnam, and stressing austerity, spartan living, simple worship, and personal salvation. Hoa Hao is an amalgam of Buddhism, ancestor worship, animistic rites, elements of Confucian doctrine, and indigenous Vietnamese practices.

In speaking, he exerted an almost hypnotic influence over his audiences and became known as Dao Khung (Mad Monk). He predicted with accuracy the fall of France in world war 2, the Japanese invasion of Indochina…

His success as a prophet led his followers to call him the Phat Song (Living Buddha).

* Nguồn: www. Britannica. com. Inc

7. Nhà văn SƠN NAM (trích Tập san Nghiên cứu văn học, số 16 tháng 6 năm 1972)

Ca dao là tâm ca, trường hợp của những câu sấm, câu vãn ở miền biên giới Việt Miên, gần dãy Thất Sơn, Châu Đốc. Nơi đây văn minh Tây phương xâm nhập trễ và khó khăn, hồi cuối thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20. Sấm vãn do Phật Thầy Tây An và các giáo chủ nối tiếp trở thành kinh nhựt tụng của mọi gia đình, lúc khẩn hoang nhọc nhằn ở nơi đất thấp chỉ thích hợp với giống lúa thum đưng thuở ấy và vài giống lúa sạ du nhập từ Cao Miên sau này.

Những bài sấm vãn được truyền tụng, gây tin tưởng cho kẻ đang chịu nhẫn nại là được phước về sau; chịu đựng không có nghĩa là ngồi một chỗ mà chờ ngày tận thế, nhưng phải nhập thế, lo siêng năng trồng tỉa, làm tròn phận sự với cha mẹ, với xã hội, với đất nước, với Phật, nên đọc bộ Kim cổ kỳ quan, các sách về giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa để thấy rằng ca dao Miền Nam đã mang sắc thái đặc biệt, hồi đầu thế kỷ ; đã là tín đồ thì ai cũng thuộc vài chục vài trăm câu, gặp những trường hợp khó khăn về sanh kế, về thiên tai thì đem ra mà dẫn chứng, để lấy lòng tin.

Sấm vãn lưu truyền ở Hậu Giang là ca dao, là văn chương bình dân. Đó là luận đề lớn, để nghiên cứu. Muốn hoàn thành công việc ấy chúng ta cần để nhiều thời giờ đến quan sát tại chỗ, chọn lọc những câu sấm vãn nào được lưu truyền, được nhắc nhở nhiều nhất, trong sinh hoạt hằng ngày.

Trong hoàn cảnh khó khăn, thầy Đoàn Minh Huyên đã hiện đại hóa đạo Phật, nêu thái độ dấn thân (khẩn hoang, giữ nước). Thầy và Giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo nối tiếp sau này, chẳng những góp công về mặt chính trị, kinh tế để tô điểm vùng đất nghèo nàn, khó sống nhất. Công ơn mà bấy lâu nay chúng ta đánh giá không đúng mức là sự xây dựng về văn chương: đó là những lời khuyến dạy về đạo lý được diễn đạt bằng lời lẽ bình dân, theo văn Nôm và theo thể thơ lục bát. Nhiều đoạn trong sấm vãn đã thật sự trở thành ca dao ở vùng biên giới.

8. Triết gia Kim Định

"Tôi vừa đọc xong tập “Phật Giáo Hòa Hảo Yếu Lược”. Gấp sách lại, thấy tự lòng dấy lên một niềm vui đầy hy vọng: đây chính là nơi đại diện cuối cùng của nền văn hóa nông nghiệp.

Về môi sinh, thì đây là miền nông nghiệp trù phú nhất nước, với năng xuất gần gấp đôi các nơi (3 triệu tấn lúa cho 1.885.000 mẫu, so với suýt soát 17 triệu tấn cho 17.326.000 mẫu trong toàn quốc). Số dân là hai triệu ở khắp trong 15 tỉnh miền Hậu Giang. Đông nhất là Châu Đốc, An Giang, Kiến Phong tức là khối lớn, lại thêm đông đặc và được tổ chức thành hàng ngũ rất chặt chẽ, thì dễ đủ sức đương đầu với mọi thử thách, dù cam go đến đâu. Nhất lại về đàng giáo lý thì đã đạt được nét đặc trưng cao nhất có thể. Trên đời mới thấy xảy ra ở đây là một:

Đường tu tiến của con người có thể chia làm ba giai đoạn lớn là Hữu Vi, Vô Vi, và An Vi. Hữu Vi đi với  Địa. Vô Vi đi với Thiên. An Vi đi với Nhân ...

Đó là kiện chứng minh bạch dứt khoát. Kiện chứng thứ hai và rất đặc biệt, đó là bản thân Đức Huỳnh Giáo Chủ không là một tăng lữ mà chỉ là một cư sĩ tại gia, là một nhà ái quốc, một nhà đại cách mạng đã lập ra đảng Dân Xã, tức có chủ trương, có sách vở, có cơ cấu tổ chức đầy đủ, không thể nghĩ ngợi gì nữa. Đó quả là một thành tựu, cho tới đó chưa ai hiện thực nổi. Đó là bước từ đạo Phật bước vào đạo Nhân, tức từ Tài Thiên đi sang Tài Nhân.

Đến khi đi vào chi tiết càng thấy rõ cái bước sang qua xảy ra từ cơ cấu nền tảng, nên rất giống Việt Nho. Thí dụ: Việc nhấn mạnh cần phải học hành, không được tin mù quáng, dù ông thầy có đáng kính mấy cũng phải đưa óc thông minh ra để xét lời thầy trước đã, có nên tin hay chăng. Rất giống Nho đặt Trí lên đầu: Trí nhân dũng.

Về thờ tự, thì cắt hết mọi phiền toái. Không nhận thầy cúng, thầy tế, thầy bói, thầy phù thủy. Không cho đốt vàng mã. Thờ Phật thì không có tượng, mà chỉ có một tấm vải màu dà để tượng trưng sự hòa hợp nhân loại. Đã không chuông không mõ, không cho dâng cúng chè xôi, thực phẩm. Không cấm sát sinh, chỉ cấm sát sinh để tế. Không có cả chùa, chỉ có “độc giảng đường”, không phải để ở, mà chỉ để giảng đạo, giống như Văn Miếu bên Nho vậy… Quả là một kết tinh của Tam giáo.

Phật thì đã bỏ tượng, bỏ chùa, chỉ còn tên, và giáo lý để đúng với câu “học Phật tu Nhân”. Thuyết là thuyết Phật, nhưng thực hiện thì lại là Nhân. Đúng ra thì cũng là thực hiện Phật, vì giữa Phật và Nho có rất nhiều mẫu số chung, như “tự lực tự cường”. Phật nói hãy thắp đèn mình mà đi thì Nho cũng nói “doãn chấp kỳ trung”; nền tảng như nhau, nhất là cả hai đều căn cứ trên Đạo Trống để bàn nơi khác.

Pháp thì sự nhận định tính cách vô thường của các pháp rất giúp vào việc tạo dựng nên tâm hồn xả bỏ, là điều quý vô cùng nơi nhà cai trị, để dễ có lòng thái công là chìa khóa cho sự thành công trong lãnh vực chính trị. Ngoài ra còn một số những điều rất khó có thể hiểu cho người thông thường, như là thuyết “thập nhị nhân duyên”, thì đề ra cho dân kính bái vậy thôi.

Tăng thì kể như không có. Phật Giáo Hòa Hảo bản chất là tại gia, không nhận sư ni, nhưng theo lối nhu thuận của Nho, là không chống đối, mà chỉ “kính nhi viễn chi”, sau khi dặn dò phòng bị những tăng sư giả mạo, như về việc ma chay giỗ chạp, thì dạy rằng: “giá trị ở chỗ tu tâm”, tự mình cầu nguyện, khỏi đi thuê khoán ai cầu cho…vvv…

Tóm lại, xét chung nội dung giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo, thì chính là đạo Nhân, nhưng bọc ngoài bằng danh Phật. Thế mà lại giữ được nét sùng mộ nhiệt tính của Phật giáo để đóng góp, nên có thể bù trừ cho đạo Nhân nơi Nho. Đạo Nho là một thứ đạo “ung dung tự tại” vì đạo nhân đã có đủ thiên địa nơi mình, khỏi cần phải bước đi đâu (vạn vật gia bị ư kỷ). Đó là chỗ cao cả nhưng cũng là chỗ yếu kém của Nho. Cao cả cho những tâm hồn có óc siêu lý cảm thấy được an nhiên tự tại: còn đối với đại chúng thì khó thấy được, nên cần có sự thúc đẩy mạnh hơn ...

Những suy luận trên đây giúp ta thấy cái thiên tài của Đức Huỳnh Giáo Chủ, khi bước từ Phật giáo đi sang tu Nhân. Đó quả là đợt mới của cây Việt mọc lên tự nội, vì Giáo Chủ không có học hành gì (học được hết tiểu học rồi cứ bệnh hoạn liên miên) mà đến 20 tuổi đột nhiên thông suốt đạo lý và bước qua nổi cái bước từ Thiên sang Nhân, một bước đã bao đời không ai bước qua được, thì đủ biết là thiên tài làm cho ta thêm lòng tin tưởng vào sinh lực lớn lao của nòi Việt, để ta mạnh dạn đặt vào tương lai cái nhìn tươi sáng."

9. BS Trần Nguơn Phiêu (Arlington - Texas)

GIÁO LÝ PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Đạo Phật là đạo giác ngộ, chỉ lối đưa đường dẫn dắt con người từ cõi đau khổ đến cõi an lạc. Đức Phật tức đức giác ngộ đã vì lòng thường xót chúng sanh, khai ngộ cho tất cả mọi người được giác ngộ như chính đức Phật.

Ông Huỳnh Phú Sổ đã giảng dạy cho tín đồ một nội dung Phật pháp đúng theo lời chuyển Pháp luân của Đức Phật. Những ai đã có dịp đọc lại cá thuyết giảng của Đức Thầy đều phải khâm phục vì ông đã đem giáo lý nhà Phật đến đại chúng nông dân một cách rất gần gũi nhưng rất trọn vẹn, từ con đường trung đạo đến tam nghiệp, tứ diệu đế đến tứ vô lượng tâm, tứ ân, ngũ giới, lục độ, bát chánh đạo, thập thiện, thập nhị nhân duyên, Đức Thầy chỉ có một chút phần thay đổi trong thứ tự Tứ Ân.Ngoài ra, trọn vẹn nội dung là đúng với những lời Đức Phật đã dạy cho đệ tử của Ngài trong Phật giáo nguyên thủy. Ông Huỳnh Phú Sổ không hề có chủ trương một nền Phật giáo nào khác.Đường vào cõi Phật có ngàn pháp môn. Đức Thầy là người thấu hiểu căn cơ chất phác của người nông dân, là những người ít học. không thể tự lực hành trì các pháp tu tối thắng, tối cao để vượt ra khỏi tam giới, thoát nạn trầm luân trong tam đồ lục đạo. Vì thế nên ông Huỳnh Phú Sổ đã chọn pháp môn Tịnh Độ là một pháp tu phù hạp với căn cơ của người nông dân Nam bộ. Ông khuyên đạo hữu: “Môn Tịnh Độ là môn cứu cánh – rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa”.

Khi chỉ mới 23 tuổi, ông đã viết bài”Phật là gì?” để tín đồ hiểu rõ hình ảnh đức Phật như Ngài đã tự giới thiệu khi còn tại thế. Ngài là người giác ngộ, một đạo sư chỉ dắt chúng sanh con đường và phương pháp đi đến giải thoát. Ông Huỳnh Phú Sổ đã cho tín đồ sự hiểu biết để họ không bị mê hoặc, tôn sùng Đức Phật như một vị Thần linh.

Thử đọc lại bài nói trên như một thí dụ điển hình, để biết rõ những lời văn thực tiển, gần gũi của ông Huỳnh Phú Sổ, những lời dạy dễ lãnh hội, đã ăn sâu vào tâm hồn chất phát của người nông dân miền Nam: “ Phật giả là Giác giả(người giác ngộ). Giác giả là tỉnh giả (người tỉnh thức)”.

Khi Đức Thích Ca thành Phật thì Ngài nói pháp Tứ đế mà độ đời trước hơn các pháp, và chỉ con đường Trung đạo cho người hành theo.

Đường Trung đạo của Phật:

Không trưởng dưỡng xác thịt quá ư sung sướng nh7: ăn nhiều, ngủ nhiều, chẳng lo làm công chuyện, chẳng học hỏi, vì sung sướng thái quá thì sanh nhiều dục vọng mê đắm, làm cho trí đạo tối tăm, không đạt huệ được.

Không nên hành xác hay ép xác thái quá như: phơi nắng dầm sương, bỏ ăn bỏ ngủ, làm lụng quá sức lực của mình, vì ép xác quá độ hay sanh bệnh họa nhiều, người mà đa mang bịnh tật rồi, tinh thần kém cỏi, nhọc mết trí hóa lu mờ, không đủ sức mà học Đạo đặng.

Nên người biết Đạo, chẳng ép xác thái quá, mà cũng chẳng để nó sung sướng quá độ, chỉ ăn ngủ có chừng mực, làm việc vừa với sức mình, giữ gìn sức khỏe mới mong được Đạo pháp.

Vậy Phật chẳng buộc ai phải ăn ở khổ hạnh và cũng chẳng biểu ai ăn ở sung sướng, chẳng ép ai ăn chay, chẳng xúi ai ăn mặn, tùy theo trình độ và lòng nhơn của mình. Điều cần yếu là phải:

“ LÀM HẾT CÁC VIỆC THIỆN

TRÁNH TẤT CÁC ĐIỀU ĐỘC ÁC

QUYẾT RỬA TẤM LÒNG CHO TRONG SẠCH”

Ông Huỳnh Phú Sổ đã có cả triệu tín đồ hưởng ứng tu hành vì Ông đã thuyết giảng đúng trình độ đại chúng bình dân trong đó phần lớn là nông dân, đúng thực trạng xã hội Việt Nam phần đông là ít học, ít hiểu biết. Tuy nhiên, những bài giảng của Ông Huỳnh Phú Sổ mang tính cách bình dân nên không khỏi bị một số Tăng Ni chê là kém cỏi, tầm thường, hoặc giáo lý PGHH không có gì là cao siêu, là chân chánh. Nhưng, những ai hiểu đạo Phật đếu phải công nhận là những bài thuyêt pháp của Ông tuy giản dị nhưng rất trong sáng và chan hòa tư tưởng Phật giáo. Ông chỉ đặc biệt chú trọng nhiều đến Tứ Ân như Phật thầy Tây An. Ngoài ra Ông không có chủ trương đưa ra những tư tưởng Phật học gì mới.

Trình độ nông dân của 90% tín đồ Ông vào thời khoảng nhiễu nhương 1940 khó có thể thông hiểu được các tư tưởng cao siêu chưa đựng trong thiên kinh vạn quyển  của triết lý.

HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG CỦA PGHH

Sự thành công đặc thù của PGHH, đưa đến sự hiện diện trường tồn ở miền Nam cho đến ngày hôm nay, mặc dầu trải qua bao nhiêu biến cố tưởng cần phải suy gẫm cặn kẽ hơn.

Hình thức tín ngưỡng của PGHH là một yếu tố quan trọng. Đây quả là một cuộc  cách mạng, đang được nhiều học giả về tôn giáo nghiên cứu.

Ông Huỳnh Phú Sổ đã thổ lộ trọng trách lâm phàm của Ông là việc phải chấn hưng Phật pháp. Từ ngày chư Tổ bặt truyền y bát đến nay, chơn pháp của Phật bị người đời làm sai tinh nghĩa nên một ngày một suy đồi. Ông tự nhận là đệ tử trung thành của Phật Thích Ca. Lãnh sứ mạng giáo truyền một nền đạo Vô Vi, khác với lối âm thinh sắc tướng của phái Thần Tú. Ông kêu gọi:

“Khuyên sư vãi mau mau cải hối/ Làm vô vi chánh đạo mới mầu/ Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu. Hãy tìm kiếm cái không mới có”

Vì thế Ông Huỳnh Phú Sổ chủ trương” theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú... Đạo vô vi của Phật ân cần, noi theo chí Thích Ca ngày trước”.

Ông Huỳnh Phú Sổ đã đặc biệt tạo nên một nền Phật giáo mới lạ, một nền Phật giáo do các giới Phật tử tại gia điều hành, một nền Phật giáo cấp tiến, không có giới Tăng lữ tham gia. Đức Thầy tuy không chủ trương xây chùa, đúc tượng nhưng trong “lời khuyên bổn đạo” Ông vẫn khuyên tín đồ phải kính trọng giới Tăng sĩ, vẫn khuyến lkhi1ch đi chùa vào các ngày rằm ngày vía của Đức Phật…Ông đã khéo léo tránh tạo sự bất hòa giữa giới Tăng sĩ và cư sĩ tại gia. Đức Thầy viết: “Hạng tại gia gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên chưa thể làm như các nhà Sư, Ni Cô đặng.Tuy vậy,họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra. Thế nên, ở tại nhà họ phượng thờ Đức Phật phát nguyện quy y, giữ gìn ít nhiều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn lòng, ủng hộ các Sư. Như thế họ cũng lần lần lên  con đường giải thoát.”…

Ông đặt trọng tâm vào việc tu tâm sửa tánh, khuyên không nên dựa vào hình tướng, lễ nghi. Hình tướng như tượng Phật, chuông mỏ chỉ là những trợ lực, những phương tiện giúp dễ tu tập nhưng lắm khi sự chấp vào hình tướng lại dẫn đến sự sai lệch đạo pháp. Về thờ phượng, PGHH chủ trương các cư sĩ tại gia nên “ thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn….chỉ thờ một tấm trần màu dà…màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc cá nhân…Màu ấy tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật”……

Đặc biệt "đối với các tôn giáo khác” đức Thầy đã khuyên tín đồ “không nên đụng chạm đến cách thức tu hành của họ".

SẤM GIẢNG THI KỆ CỦA HUỲNH PHÚ SỔ

Có rất ít bậc trí thức được biết là 40 năm về trước. Ông Huỳnh Phú Sổ đã dịch nhiều thi kệ từ tiếng Hán ra Việt ngữ cho tín đồ của Ông. Xin được nhân dịp nầy, thử đọc lại các câu chú thường được niệm, trích ra từ tập Sấm Giảng Thi văn của Ông Huỳnh Phú Sổ:

“Năng lễ sở lễ tánh không tịch/ Cảm ứng đạo giao nan tư nghì/ Ngã thử đạo tràng như đế châu./ Thập phương chư Phật ảnh hiện trung/ Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,/ Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ”.

Ông Huỳnh Phú Sổ đã dịch thành thơ như sau, một cách rất sát nghĩa:

“Sự lạy Phật vốn không, yên tĩnh/ Đạo cảm giao khó tính khôn bàn/ Nay tôi ở trong đạo tràng/ Cũng như kết chặt vào đoàn ngọc châu./ Mười phương Phật hiện bầu hình ảnh/ Có bóng tôi cũng sánh cùng Ngài,/ Từ chơn cho chí mặt mày,/ Cúi đầu làm lễ nguyện rày quy y”.

- Về bài “rửa tay”:

Hán văn: “Dĩ thủy quán tưởng/ đương nguyện chúng sanh/ đắc thanh tịnh thủ/ thọ trì Phật pháp.”

Ông Huỳnh Phú Sổ viết: “lấy nước, tôi rửa sạch tay/ Nguyện cầu sanh chúng được tay thơm lành/ Ngỏ hầu nắm pháp vô sanh/ Giữ gìn lời Phật ban hành từ xưa”

- Về bài  “thỉnh chuông”:

Hán văn: Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới / Thiết vi u ám tất giai văn / văn trần thanh tịnh chứng viên thông /nhất thiết chúng sanh thành chánh giác”.

Ông Huỳnh Phú Sổ viết: “Nguyện tiếng chuông lành thông các cõi/ Thiết vi địa ngục cũng nghe rành/ Nghe rồi thân tịnh, tâm tròn sáng/ Tất cả chúng sanh Phật đạo thành”

Minh Mẫn (27/12/2012)

Các tin đã đăng: