02.
Phương pháp rèn luyện tâm
Leonard A. Bullen là một trong
những nhà tiên phong về hoạt động Phật giáo tại Úc. Ông là chủ tịch đầu tiên
của Hội Phật Học Victoria, được thành lập vào năm 1953, và ông là người đầu
tiên trong Ban Điều Hành của Hội Đoàn Phật giáo Úc. Ông cũng là phó chủ bút của
tờ Phật giáo Metta. Ông mất vào năm 1984, hưởng thọ 76 tuổi.
Những sách báo của ông được Buddhist
Publication Society xuất bản:
- Kỹ thuật Sống (A Technique of Living – Wheel
No. 226/230) và Hành Động & Phản ứng trong Phật pháp -trong Nghiệp và
Quả (Action and Reaction in Buddhist Teaching - in Kamma and Its Fruit -
Wheel No. 221/224).
_____________
Khi nghe một điều gì về
Phật giáo trong bản tin tức hàng ngày, bạn thường nghĩ đến một tôn
giáo thờ nhiều hình tượng to lớn, có các thầy tu áo vàng, với không
khí dày đặc mùi khói nhang. Bạn có cảm giác tôn giáo nầy không
phải dành cho bạn, ngoại trừ có thể đấy chỉ là một buổi trình
diễn ly kỳ, hấp dẫn.
Tuy nhiên, chẳng lẽ Phật giáo
chỉ có thế thôi? Các tân nhiếp ảnh gia không chụp được các ảnh thật
sự về Phật giáo hay sao? Báo chí trình bày cho bạn thấy những hào
nhoáng của tôn giáo đó, hay đó chỉ là cái dáng vẻ bề ngoài?
Chúng ta hãy nhìn rõ xem
Phật giáo thật sự là gì, Phật giáo được trình bày rành rẽ tận
gốc rễ, vì Phật giáo vẫn hiện hữu ngay cả dưới các trang sức bên
ngoài. Mặc dù Phật giáo, thông thường được xem là một tôn giáo,
căn bản của Phật giáo là trau dồi, rèn luyện tâm. Thật sự thì với
truyền thống của tu viện và những yếu tố về mặt đạo đức, Phật giáo
sở hữu nhiều đặc điểm với ngoại hình mà người Âu Mỹ thường cho là
thuộc về tôn giáo. Tuy vậy, Phật giáo không tin vào một đấng thượng
đế, vì Phật giáo cho rằng vũ trụ được hình thành và chuyển vận
bằng những định luật không có chủ thể, vũ trụ không phải là sáng
tạo của một đấng trời nào; Phật giáo không chủ trương cầu xin, vì
đức Phật là một vị thầy, không phải là thượng đế, và Phật giáo xem
việc thờ cúng không phải là một điều luật bắt buộc, nhưng đó là
cách để bày tỏ sự biết ơn đối với đức Phật và là phương thức để
trau dồi, phát triển thân tâm. Vì thế, với những nhận xét như nói ở
đây, Phật giáo không phải là một tôn giáo.
Lại nữa, Phật giáo hiểu
rằng niềm tin không thể chỉ gói gọn trong sự tin tưởng vào lời chỉ
dạy của đức Phật. Một người Phật tử không được tin vào bất cứ điều
gì chỉ vì điều ấy được đức Phật nói ra, hoặc vì đó là điều được
ghi trong sách cổ, hoặc vì điều ấy được truyền xuống từ những bậc
cha ông, hoặc vì có nhiều người tin vào điều ấy. Phật tử có thể xem
lời dạy của đức Phật như một giả thuyết, và truy cứu về điều ấy,
nếu đúng thì Phật tử hãy tin tưởng; người Phật tử không nên chấp
nhận bất cứ điều gì nếu như thấy nó không đúng lý lẽ. Điều nầy
không có nghĩa là mọi thứ đều phải được trình bày một cách hợp
lý, vì có những nhận thức nằm xa khung kính tri thức và chỉ có thể
nhận biết bởi sự phát triển về mặt tâm linh. Nhưng yếu tố chánh vẫn
là không nên mù quáng tin về mọi điều trong lời dạy của đức Phật.
Phật giáo là cách sống dựa
trên việc rèn luyện tâm. Mục đích cao nhất là để đi trên con đường
giải thoát khỏi đau khổ, và đạt đến Niết Bàn, một trạng thái xa
hẳn cấp bậc của một tâm trí thông thường, chưa được rèn luyện. Mục
tiêu tức thời là đánh ngay vào những gốc rễ của đau khổ trong cuộc
sống hàng ngày.
Mọi hoạt động của con người
được chỉ dẫn, ngay đó hay xa hơn, để tiến đến hạnh phúc bằng cách
này hay cách khác; hoặc giả để bày tỏ một việc bằng những chữ tiêu
cực, tất cả hoạt động của con người được chỉ dẫn để đạt giải
thoát, vượt qua những việc bất như ý, không hài lòng. Bất như ý, có
thể được xem như khởi điểm của hoạt động con người, và hạnh phúc là
mục đích cao cả nhất.
Bất mãn hay bất như ý, khởi
điểm hoạt động con người, là điểm xuất phát trong Phật giáo; và
điểm này được bày tỏ bằng công thức của Bốn Câu Căn Bản, yếu tố của
sự bất mãn được chỉ rõ, nguyên nhân, cách chữa, và phương thức để chữa.
Câu Căn Bản Thứ Nhất như sau:
Trong Đời Sống con người không thể
tránh được sự bất mãn.
Nguồn gốc ý nghĩa của câu
nầy, chữ “bất mãn” thường được dịch là “đau khổ”, bao gồm ý nghĩa
không chỉ là nỗi đau, buồn phiền, và bất mãn, nhưng mọi thứ đều là
không như ý, từ nỗi đau đớn thể xác và sự khổ não về tâm bệnh, cho
đến mệt mỏi chút ít, chán nản hay chỉ một chút thất vọng.
Đôi khi lại chỉ cho sự “bất
mãn” hoặc “bất như ý”; trong vài bài pháp có thể những từ nầy được
dùng một cách chính xác, và ở lúc khác từ “đau khổ” lại được sử dụng.
Vì lẽ nầy, chúng tôi sẽ dùng cả hai từ “đau khổ” và “bất mãn” hay
“bất như ý” tuỳ vào nội dung của bài pháp thoại.
Trong vài bài dịch từ bản
gốc, thì sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, và sung sướng là
khổ. Trong bản tiếng Anh, câu cuối cùng không có nghĩa gì; nhưng nếu
chúng ta sửa lại là “sự thỏa mãn không được như ý” thì có lẽ dễ hiểu
hơn, vì mọi thỏa mãn đều vô thường, và mặt trái của sự sung sướng, thỏa
mãn thường là đau khổ, và từ nhận thức nầy, chữ không được như ý có
lẽ đúng lý hơn.
Bây giờ đức Phật dạy rằng
sự bất mãn hoặc đau khổ là việc không thể tránh khỏi, trong đời sống
con người có cái “ngã”; và “đời sống có cái ngã” cần được giải
thích. Tóm lại, kinh điển dạy rằng bản ngã được xem là một linh hồn
cố định, bất biến, đây là một điều không có thực.
Trung tâm cốt lõi của mỗi
sinh vật không phải là một linh hồn bất biến, mà là dòng sông cuộc
sống, một nguồn năng lượng luôn thay đổi, và phút giây kế tiếp không
bao giờ giống như phút giây vừa trôi qua. Cái ngã, được xem như một
linh hồn bất diệt, và đây là ảo tưởng của bản ngã, nỗi đau khổ nhất
bắt nguồn từ nơi đây. Cuối cùng khi cái ảo tưởng về Tôi được chuyển
hoá thì đấy là sự giác ngộ, trạng thái nầy cao nhất, và nằm xa hơn
cái vũ trụ tương đối mà chúng ta biết. Nơi trạng thái cao nhất này,
đau khổ bị dập tắt; khi bất cứ một cái gì về “ngã” còn tồn tại,
cho dù chỉ là một ảo tưởng nhỏ, đau khổ vẫn còn hiện diện.
Vì vậy, chúng ta phải hiểu
rằng Câu Căn Bản Thứ Nhất không có nghĩa là đau khổ không thể tránh
được; nó chỉ có nghĩa là trong cuộc sống nơi cái ngã ngự trị, ta
không thể tránh khỏi đau khổ, và nếu như ảo tưởng cái ngã còn,
thì đau khổ vẫn tiếp diễn.
Bây giờ chúng ta nói đến Câu
Căn Bản Thứ hai, như sau: Nguyên nhân
của đau khổ (bất như ý) là ham muốn.
Nếu bạn trợt té trên sàn
nhà trơn ướt và bị bầm mình, bạn nói nguyên nhân cái đau mà bạn đang
phải chịu đựng là vì sàn nhà trơn trợt. Điều nầy đúng, và nếu nói
vết bầm của bạn là do ham muốn mà ra thì chắc là không đúng rồi.
Nhưng câu hai không nói đến
trường hợp cá nhân, hoặc nguyên nhân tức thời. Câu hai muốn nói
đến sức mạnh hợp nhất để gìn giữ nguồn sống là sự ham muốn cho
chính bản thân; vì nguồn sống nầy – ảo tưởng về cái ngã – chứa
đựng những điều kiện cho đau khổ, trong khi sàn nhà trơn trợt chỉ là
một cơ hội cho đau khổ xuất hiện.
Vì bản chất của thế giới
mà chúng ta đang sống, thật là điều không tưởng khi muốn chữa đau khổ
bằng cách loại bỏ hết những cơ hội có thể mang lại đau khổ; cũng
như không thể đánh vào nguyên nhân hay cơ sở chánh của cái khổ.
Vì thế Câu Ba căn bản là: Giải thoát sẽ đạt được bằng cách tiêu diệt
ham muốn.
Sự ham muốn của cái ngã là
giữ chặt lấy đời sống; dòng sông ý thức hiện hữu mà chúng ta gọi là
ngã; và chỉ vì cái si mê của ngã mà sự bất như ý và đau khổ xuất
hiện. Khi diệt trừ được sự nắm giữ si mê về ngã, gốc rễ của đau khổ
cũng bị tiêu diệt.
Mục đích cao nhất của thực
tập trong Phật giáo là để tiêu diệt bản ngã. Chính ngay nơi nầy sự
hiểu lầm xuất hiện, và đó là điều tự nhiên; nhưng một khi nhận thấy
rằng tiêu diệt cái ngã là huỷ diệt si mê thì sự hiểu lầm nầy sẽ
biến mất. Khi si mê được tẩy trừ, thực tại xuất hiện; như vậy tiêu
diệt si mê là để thực tại hiển hiện. Khi si mê về cái ngã vẫn tiếp
tục che tối thực tại thì ta không tài nào tìm thấy nó.
Giờ đây khi si mê bị tiêu
diệt thì thực tại nầy là gì. Thực tại cao tột là Không Duyên Khởi,
cũng được gọi là Không Sanh, Không Cội Nguồn, Không Pha Lẫn. Với cách
thức diễn đạt không đầy đủ, không chính xác, chúng ta có thể tạm diễn
tả nó như một trạng thái khả quan tích cực. Đó là nơi có hạnh phúc
và tự do, hoàn toàn thoát khỏi đau khổ và nó rất khác biệt với
trạng thái hiện hữu tầm thường và không thể nào được diễn tả bằng lời
nói. Trạng thái Không Duyên Khởi có thể được chỉ dẫn – để đạt đến
điểm cao tột – chỉ bằng cách nói về những điều mà trạng thái
đó không có.
Trong các bài pháp Phật
giáo, Không Duyên Khởi thường được giải thích là tâm không còn tham,
sân, si. Đây cũng nói đến sự hoàn hảo của các cá tính đối nghịch,
vị tha, từ bi, và trí tuệ.
Đạt đến trạng thái Không
Duyên Khởi là mục đích cao tột của tất cả thực tập nơi Phật giáo,
và cũng tương đương như sự giải thoát rốt ráo khỏi đau khổ và sự
bất như ý. Sự việc nầy đưa chúng ta đến với câu cuối cùng của bốn Câu
Nói Căn Bản.
Câu Căn Bản Thứ Tư: Con đường giải thoát là Bát Chính Đạo.
Con đường có tám yếu tố sau đây:
1. Hiểu biết đúng, sự hiểu biết
về bản chất chân thật của hiện hữu
2. Suy nghĩ đúng, ý nghĩ không
còn vướng vào nhục dục, sự xấu xa, và độc ác.
3. Nói lời chân thật, không bịa
đặt, nói xấu, nói lời cộc cằn thô lỗ, và không nói nhảm.
4. Hành động chân chính, tránh
việc sát hại, trộm cắp, và tà dâm.
5. Cuộc sống chân chính, nghề
nghiệp không làm hại đến các chúng sinh.
6. Cố gắng chân chính, hoặc cố
gắng tiêu diệt kiết sử nơi tâm thức và nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp.
7. Tâm thức chân chính, sự hoàn
hảo của chánh niệm.
8. Tư duy chân chính, nuôi dưỡng
tâm thức qua việc thiền định.
Bây giờ bạn thấy trong Con đường
Bát Chính Đạo, quan trọng là nó không có tính chất tôn giáo; nó giống như khoa
tâm lý đạo đức.
Nhưng con người ở phương Đông
cũng như ở phương Tây, nói chung, giống như sự đòi hỏi phiến diện bằng cách này
hay cách khác – ít nhất ở mặt bên ngoài – những cái không quan trọng lại được
xem là cần thiết.
Trong khi những đặc điểm phiến
diện trong thực tập Phật giáo cần được thay đổi tùy vào hoàn cảnh xung quanh,
những đặc tính quan trọng, không thay đổi của thực tập được tóm tắt trong bảng
chỉ dẫn của Bát Chính Đạo, đức Phật đã dạy về Trung Đạo, con đường trung dung
giữa những trạng thái cực đoan.
Mặc dù thật bất tiện khi nói về
những khía cạnh khác của Bát Chính Đạo như là tám cấp bậc, không nên xem đó là
những cấp bậc riêng biệt, phải làm từng chặng. Ngược lại, mỗi cấp bậc phải được
thực tập cùng lúc với những cấp bậc khác, và có lẽ sẽ tốt hơn nếu ta nhìn nó
như tám lằn ranh của một con đường hơn là tám cấp bậc nối tiếp nhau.
Bước thứ nhất của con đường,
hiểu biết đúng, quan trọng nhất là thấy mọi việc như nó là – hoặc ít nhất, thử
làm mọi việc với tính cách không trốn tránh, hoặc tự lừa dối. Nghĩa là, hiểu
biết đúng bắt đầu bằng sự yêu thích trí tuệ, yêu bản chất tự nhiên của sự hiện
hữu, và như thế đấy được coi như là bước đầu của con đường thực tập; nhưng khi
đã đến cuối con đường, sẽ đạt được tình thương và trí tuệ.
Trong khi Chánh Kiến có thể được
xem như sự thấu hiểu hoàn hảo nơi Phật Pháp, nó dựa vào sự hiểu biết ba đặc
điểm chánh yếu trong thế giới tương đối của vũ trụ, thời gian, hình thể và vật
chất. Ba đặc điểm này có thể tóm tắt như sau:
1. Vô thường: Tất cả mọi thứ trong thế
giới tương đối này luôn thay đổi liên tục.
2. Bất như ý: Trong một mức độ nào đó
của đau khổ và bất như ý dính liền với cuộc sống “có bản ngã”, hoặc liên hệ tới
những giới hạn kinh nghiệm cá nhân trong thế giới tương đối.
3. Vô ngã: Không có thực thể - không
là con người hay bất cứ chúng sanh nào - không sở hữu một linh hồn hay bản ngã
thường hằng, không thay đổi. Mỗi một chúng sanh có một dòng sinh lực luôn thay
đổi, sự thay đổi tùy thuộc vào hiện tượng tinh thần và vật chất, giống như một
dòng sông luôn trôi chảy và không bao giờ đứng yên một chỗ dù chỉ trong tích
tắc.
Như vậy, bản ngã, không phải là
một thực thể tĩnh lặng mà là một dòng thay đổi liên tục. Khái niệm năng động về
sự hiện hữu là một ý nghĩ sâu xa tiêu biểu trong Phật giáo; trong cuộc sống
không có bất cứ vật gì là tĩnh lặng, cuộc sống là một dòng trôi chảy liên tục
mà ta cần phải học để biết cách bơi theo dòng.
Một khái niệm khác của Chánh
kiến là nhận thức rằng vũ trụ có tiến trình của nó với nền tảng nhân và quả,
với hành động và sự phản kháng, liên tục không cố định và nó đều giống nhau
trong thế giới đạo đức, tinh thần và vật chất. Tùy vào hành động tốt mà người
tạo tác có lúc hưởng được sự sung sướng, và có lúc vì hành động xấu ác mà kẻ
tạo tác phải chịu đau khổ.
Các ảnh hưởng tốt hay xấu –
nghĩa là, hạnh phúc và đau khổ là kết quả của những hành động đã tạo tác –
thông thường kết quả không theo liền sau nhân tạo tác; thường có sự chậm trễ
trong vấn đề thời gian, kết quả của hạnh phúc và đau khổ chỉ xuất hiện khi nhân
duyên đầy đủ. Kết quả có thể không xuất hiện trong hiện tại. Và như vậy, cái
chết thông thường là một sự thăng bằng về mặt “hưởng phước”, nếu như quả tốt
chưa xuất hiện kịp thời; và đồng thời cũng là một sự thăng bằng về mặt “chịu
khổ”, nếu như đau khổ là kết quả không thể tránh khỏi.
Sau khi chết, thân thể tan hoại,
dĩ nhiên, dòng sinh lực vẫn còn tiếp tục, không phải trong dạng của một linh
hồn bất biến, mà là trong dạng của dòng năng lực luôn thay đổi. Tức thời sau
khi chết, một chúng sinh mới bắt đầu cuộc sống trong dòng đời; nhưng chúng sinh
này không nhất thiết phải là một người, và trong tích tắc sự đầu thai có thể
xảy ra ở một tầng hiện hữu khác. Tuy vậy, chúng sinh mới hiện hữu đó vẫn phải
chịu đựng một ảnh hưởng trực tiếp từ chúng sinh vừa mới qua đời.
Như vậy, chúng sinh mới này hiện
hữu là sự tiếp tục không ngừng nghỉ của chúng sinh kia, mà dòng đời vừa đứt
đoạn. Chúng sinh mới thừa hưởng phần phước đức còn lại của chúng sinh đã chết,
và như vậy, phần phước đó sẽ mang lại cho chúng sinh mới này sự sung sướng
trong tương lai. Đồng thời, chúng sinh này cũng phải chịu luôn phần ác báo còn
lại của kẻ kia, và như vậy, sẽ phải chịu đựng sự đau khổ nào đó trong tương
lai.
Tóm lại, trong ý nghĩa của sự
liên tục, chúng sinh mới giống như chúng sinh đã chết. Cũng như vậy – chỉ trong
ý nghĩa của sự liên tục – một ông già không khác với cậu thanh niên lúc trẻ,
cậu thanh niên không khác với đứa bé con lúc trước, và đứa bé con không khác
với đứa bé mới sanh khi xưa đó. Cá tính của ông già với cậu thanh niên, với đứa
bé con, và đứa trẻ sơ sanh, chỉ là một sự liên tục ; không có cá tính nào khác.
Tất cả mọi vật trong vũ trụ thay
đổi ngày này sang ngày khác, từ phút này tới phút khác, như vậy một chúng sinh
lúc này chỉ khác với chúng sinh lúc sau chút xíu thôi ; Cá tính duy nhất là sự
liên tục. Cũng như vậy, một chúng sinh được tái sinh thì khác với chúng sinh
vừa chết kia; nhưng do sự liên tục mà cá tính hôm nay vẫn không khác cá tính
lúc trước.
Những lời giảng dạy này là điều
căn bản của phật pháp – bản chất thật về bản ngã là một ảo giác, quy luật nhân
quả trong phạm vi đạo đức, và sự tái sinh của những năng lượng trong đời sống –
nhưng không cần mọi người phải chấp nhận bất cứ điều gì nếu cảm thấy không đúng
lý với bản thân. Chấp nhận bất cứ lời giảng dạy nào cũng không quan trọng; quan
trọng là sự cố gắng không ngừng nghỉ để nhận thấy mọi vật như nó là, không trốn
tránh, không tự lừa dối.
Dàn bài ngắn gọn của bài pháp
coi như khá đầy đủ với Chánh kiến dẫn đầu. Bước kế tiếp, suy nghĩ hoặc mục đích
chân chính, giải thoát các khả năng tri thức khỏi những yếu tố xúc cảm có hại,
như tham dục, ác ý, và hành động bạo tàn, làm bất lợi cho những quyết định sáng
suốt, không thiên vị.
Chánh ngữ, Chánh mạng, và Chánh
nghiệp tạo nên một phần của con đường đạo đức, chúng giúp cho những nhiễm ô của
tâm thức bị nằm dưới sự điều khiển và không cho nó trồi lên để tạo thành những
hành động có hại. Tuy vậy, những nhiễm ô này không thể bị tiêu diệt hoàn toàn
chỉ nhờ vào sự đạo đức, và như vậy những bước khác của con đường cần được áp
dụng để tẩy rửa những nhiễm ô của tâm thức một cách sạch sẽ hoàn toàn.
Bây giờ bước kế tiếp – Chánh
tinh tiến – chúng ta bước vào phạm vi của tâm lý thực tiễn, Chánh tinh tiến
trong bài này nghĩa là sự cố gắng của ý chí. Cũng có nghĩa là, bước thứ sáu
trên con đường trau dồi bản thân, luyện tập ý chí để phòng ngừa và khắc phục
những trạng thái tâm thức có thể làm cản trở sự phát triển tâm linh, và bồi
dưỡng cũng như khuyến khích những trạng thái tâm thức có thể mang lại sự phát
triển về tinh thần.
Bước thứ bảy trên đường cũng là
môn tâm lý thực tiễn; bước này gọi là Chánh niệm, và nó bao gồm sự phát triển
tối đa nơi khả năng bình thường của sự chú tâm. Sự phát triển về mặt chú tâm –
sự hiểu biết lan rộng và mạnh mẽ -- tâm thức dần dà có thể phân biệt mọi vật và
thấy rõ mọi vật như nó là.
Hoạt động cơ bản của bước thứ
bảy, Chánh niệm, là phát triển sự chú tâm về bản chất không thực của bản ngã.
Tuy vậy, cần phải liên tục cải thiện khả năng chú tâm bình thường, và như vậy,
tâm thức được trang bị tốt hơn để đối diện với những vấn đề căng thẳng trong
sinh hoạt hằng ngày nơi thế gian.
Phương cách của đức Phật, sự chú
tâm bao gồm sự phát triển về khả năng tập trung, để tạo nên chánh niệm liên tục
trong tất cả những ý nghĩ chợt xuất hiện, tất cả những chữ đã được thốt ra, tất
cả những hành động đã làm, với cái nhìn buông xả, không tham đắm, không thiên
vị, và không mê lầm.
Chánh niệm có nhiều cách áp dụng
trong sinh hoạt hằng ngày. Thí dụ, chánh niệm có thể được sử dụng để có một cái
nhìn thấu đáo, sự hiểu biết rõ ràng, của những động lực nằm sau các hoạt động,
và sự hiểu biết rõ ràng về động lực này là một điều thật quan trọng.
Chánh định, bước cuối cùng trong
tám cấp bậc, trau dồi tâm thức ở những trạng thái cao hơn – đến lúc hấp thụ mọi
thứ trong chánh niệm – những trạng thái tâm thức cao tột này được sử dụng để
thống nhất, thanh tịnh hoá, và làm mạnh mẽ tâm thức để đạt đến sự giải thoát,
sáng suốt.
Khi đạt được giải thoát thì ảo
giác về bản ngã, với những tham đắm, đau khổ cũng được chuyển hoá và bị dập tắt
hoàn toàn.
Sự hiểu biết xuyên suốt là mục
đích tối hậu của tất cả các thực tập Phật giáo, và với sự sáng suốt đó, sự hiểu
biết về bản chất thực của đời sống cũng sẽ hiện diện, tột bậc của sự hiểu biết
về Không Duyên Khởi. Không Duyên Khởi là sự dập tắt bản ngã, không hẳn là không
hiện hữu hoặc hủy diệt, bởi vì sự tiêu diệt bản ngã chỉ là sự tiêu diệt si mê.
Mỗi sự miêu tả về Không Duyên Khởi đều thất bại, bởi vì nó nằm xa hẳn thế giới
chữ nghĩa, và ý nghĩ; và cách duy nhất để biết về Không Duyên Khởi là thực hành
Bát Chánh Đạo từ đầu đến cuối.
Như vậy, đây là nguyên gốc của
Phật giáo; đây là Phật giáo của Bát Chánh Đạo, của con đường đưa đến giải
thoát, thoát khỏi bản ngã và đạt đến sự hiểu biết thấu đáo về thực tại.
Leonard
Bullen
Mỹ Thanh
dịch
(Theo
Buddhist Publication Society (BPS) Bodhi Leaves BL 42)