“Kha-linh, Thánh đế Chuyển Luân Vương...”
Chuyện này bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về việc Tôn giả Ànanda cử
hành lễ cúng dường cây Bồ-đề.
Trong lúc đức Như Lai du hành vì mục đích thâu nhận những người đủ cơ duyên để
thọ giới, dân chúng thành Xá-vệ tiến đến Kỳ Viên, tay cầm đầy vòng hoa thơm
ngát, thấy không có nơi nào khác để tỏ lòng ngưỡng mộ sùng kính, lieàn đặt hoa
bên cổng vào Hương phòng của đức Phật rồi ra đi. Việc này đã gây được niềm hoan
hỷ rất lớn. Song Trưởng giả Cấp Cô Ðộc nghe được chuyện ấy; khi đức Như Lai trở
về, vị trưởng giả liền đến thăm Tôn giả Ànanda vaø nói:
– Thưa Tôn giả, tinh xá này không được cúng dường trong lúc đức Như Lai đi du
hóa, và không có nơi nào cho dân chúng dâng hoa thơm để tỏ lòng sùng bái. Xin
Tôn giả từ bi thưa với đức Như Lai về vấn đề này để Ngài cho biết xem có thể
tìm được nơi nào dùng vào mục đích này chăng ?
Vị Tôn giả sẵn sàng làm theo, và thưa đức Phật :
– Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu loại bảo tháp?
– Này Aønanda, có ba loại.
– Bạch Thế Tôn, đó là các loại nào ?
– Bảo tháp thờ kim thân, bảo tháp thờ các vật thường dùng hay mang trên người
và bảo tháp thờ các kỷ vật khác.
– Trong lúc Thế Tôn còn tại thế, có thể xây một bảo tháp được chăng ?
– Không được, này Ànanda, không thể xây một bảo tháp thờ kim thân, loại tháp đó
chỉ được xây khi nào một đức Phật diệt độ (đắc Niết-bàn vô dư y). Một bảo tháp
thờ kỷ vật cũng không đúng đâu vì mối liên hệ chỉ tùy thuộc vào tâm tưởng mà
thôi. Còn cây Ðại Bồ-đề đã được chư Phật sử dụng, nên rất đáng làm nơi chiêm
bái, dù chư Phật còn tại thế hay diệt độ.
– Bạch Thế Tôn, trong thời gian Thế Tôn đi du hóa xa xôi, ngôi Ðại Tinh xá Kỳ
Viên này không có nơi nương tựa, và dân chúng không có nơi nào để có thể tỏ bảy
lòng quy ngưỡng. Xin Thế Tôn cho phép con trồng một hạt giống từ cây Ðại Bồ-đề
(ở Bồ-đề Ðạo tràng) ngay trước cổng Tinh xá này được chăng ?
– Dĩ nhiên nên làm như vậy lắm, này Ànanda, và nó cũng sẽ là một nơi an trú cho
Ta như trước kia.
Tôn giả này nói lại chuyện ấy với Trưởng giả Cấp Cô Ðộc, bà Visàkkà và vua
(Pasenadi). Sau đó tại cổng Tinh xá Kỳ Viên, Tôn giả đào một lỗ để trồng cây
Bồ-đề và nói với vị Ðại trưởng lão Moggallàna (Mục-kiền-liên) :
– Tiểu đệ muốn trồng một cây Bồ-đề trước Tinh xá Kỳ Viên, xin tôn huynh kiếm
cho tiểu đệ một quả Bồ-đề có được chăng ?
Vị Trưởng lão kia rất sẵn sàng đồng ý, liền bay qua không gian đến tận vùng đất
có cây Bồ-đề ấy. Ngài lấy đặt dưới tấm y một quả Bồ-đề đang rụng ra khỏi thân
cây nhưng không rớt xuống đất, và mang nó về giao cho Tôn giả Ànanda. Vị Toân
giả này báo tin cho vua xứ Kosala biết là mình sắp trồng cây Bồ-đề. Vì thế buổi
chiều vua đến cùng một đám tùy tùng đông đảo, sau đó, ông Cấp Cô Ðộc và bà
Visàkhà cũng đến cùng một đám người mộ đạo nữa.
Ở chỗ caây Bồ-đề sắp được trồng, Tôn giả Ànanda đặt một chiếc bình vàng, dưới
đáy có lỗ, đựng đầy đất tẩm nước hương thơm ngát. Tôn giả bảo :
– Tâu Ðại vương, xin hãy trồng hạt giống Bồ-đề này.
Và Tôn giả trao hạt ấy cho vua. Song vua nghĩ rằng vương quốc này không ở trong
tay mình mãi được, nên để cho ông Cấp Cô Ðộc trồng, liền giao hạt giống cho vị
trưởng giả đại phú kia. Sau đó ông Cấp Cô Ðộc xới đất thơm lên và thả hạt giống
vào. Vừa luùc hạt rơi ra khỏi tay vị ấy, ngay trước mắt mọi người, vọt lên một
cây Bồ-đề con, to cỡ bằng đầu lưỡi cày, cao chừng năm mươi cubit (1 cubit =
0,45cm) tứ phía nảy ra năm cành lớn dài 50 cubit, như thân cây ấy. Cây đứng
sừng sững như thế quả là một chúa tể rừng xanh, một phép lạ hy hữu thần
kỳ.
Vua tưới quanh thân cây những bình bằng vàng, bằng bạc, tất cả tám trăm bình
đựng đầy nước tỏa hương thơm ngát, tươi đẹp với vô số hoa sen xanh. Bao giờ
cũng vậy, vua ra lệnh đặt một dãy dài bình bát đựng đầy thực phẩm và một sàng
tọa làm bằng bảy báu vật, có lớp nhủ vàng rảy lên, rồi đựng một bức tường bao
quanh vùng ấy, lại xây một nhà canh cổng làm bằng baûy báu vật. Vua bày tỏ lòng
sùng kính đặc biệt trọng thể như vậy đối với cây Bồ-đề.
Trưởng lão Ànanda đến gần đức Như Lai thưa với Ngài :
– Bạch đức Thế Tôn, vì lợi lạc của chúng sanh, xin Thế Tôn thị hiện ngay dưới
cây Bồ-đề con vừa mới trồng này sự chứng đắc Vô thượng Chánh Ðẳng Giác mà Thế
Tôn đã thành tựu dưới gốc cây Bồ-đề trước kia.
– Này Ànanda, ông nói gì thế ? Không có nơi nào khác có thể chịu đựng nổi sức
mạnh của Ta nếu Ta ngồi nơi đó để chứng đắc quả vị mà Ta đã chứng đắc trong khu
vực có cây đại Bồ-đề trước kia đâu.
Tôn giả Ànanda lại nói :
– Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn vì lợi lạc của chúng sanh mà dùng cây Bồ-đề này làm
nơi nhập đại định, bao lâu mặt đất chốn này đủ sức chịu đựng sức mạnh của Thế
Tôn.
Bậc Ðạo Sư liền sử dụng nơi mới trồng cây Bồ-đề ấy để nhập đại định suốt một
đêm.
Tôn giả Ànanda liền báo tin với vua và mọi người khác, rồi gọi nó bằng tên “Hội
Bồ-đề”. Và cây này do Tôn giả Ànanda trồng nên được đạt tên là cây Bồ-đề của
Ànanda.
Vào thời ấy, Tăng chúng bắt đầu nói đến việc trên tại Chánh pháp đường :
– Này Hiền hữu, ngay đức Như Lai còn tại thế, Tôn giả Ànanda đã xin trồng một
cây Bồ-đề và cử hành đại lễ cúng dường. Uy lực của Tôn giả ấy thật cao cả thay.
Bậc Ðạo Sư đi vào hỏi Tăng chúng đang bàn luận điều gì. Các vị thưa với Ngài.
Ngài bảo :
– Này các Tỷ kheo, đây không phải là lần đầu tiên Ànanda hướng dẫn hội chúng
loài người trên khắp bốn châu thế giới cùng các đám tùy tùng đông đảo mang đến
vô số vòng hoa thơm và mở hội Bồ-đề trong vùng đạo tràng quanh cây Bồ-đề kia
đâu.
Nói xong Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, trong vương quốc Kalinga tại kinh thành Dantapura, có một vị vua
mệnh danh là Kalinga cai trị. Vua có hai vương tử tên là Mahà-Kalinga và
Culla-Kalinga. Thời ấy các nhà tiên tri đã đoán rằng vị thái tử sẽ cai trị sau
khi vua cha băng hà, còn vị vương đệ sẽ trở thành nhà tu khổ hạnh, sống đời
khất sĩ; tuy thế con trai vị ấy về sau lại sẽ làm một đấng Chuyển luân Thánh
vương (Ràja Cakkavatti)1
Thời gian trôi qua khi vua cha băng hà, thái tử lên ngôi báu, còn tiểu đệ làm
Phó vương. Vị vương đệ cứ nghĩ rằng con trai mình sau này sẽ là một Chuyển luân
vương, nên sinh lòng kiêu mạn về cớ đó. Vua không chịu được chuyện này liền ra
lệnh cho một vị sứ thần truy bắt Phó vương Kalinga. Vị sứ giả kia đi đến bảo :
– Tâu Ðiện hạ, Ðại vương muốn sai bắt ngài, vậy ngài hãy lo cứu mạng mình.
Vương tử này liền chỉ cho vị sưù thần được giao trọng trách này thấy
chiếc nhẫn có dấu hiệu riêng của mình, một tấm thảm thật đẹp và một cây kiếm :
Có ba bảo vật tất cả. Rồi vương đệ bảo :
– Khanh phải nhận ra vương nhi của ta nhờ những tín vật này và phò vương nhi
lên ngôi báu.
Cùng với những lời dặn dò này, vương tử vội trốn vào rừng. Tại đó chàng dựng
một am thất ở một nơi tươi đẹp, vừa ý và sống như người tu khổ hạnh trên một bờ
sông.
Lúc bấy giờ trong vương quốc Madda ở kinh thành Sàgala, vua Madda vừa hạ sanh
một công chúa. Về phần công chúa này, cũng như vương tử kia, các nhà tiên tri
đoán rằng nàng sẽ phải làm nhà tu khổ hạnh, song con trai nàng sẽ thành một
Chuyển luân vương. Các vị vua ở Jambudìpa (Diêm-phù-đề tức Ấn Ðộ2) nghe tin đồn
ấy liền đồng một lúc đến bao vây kinh thành.
Vua nghĩ thầm : “Nay ta gả con gái ta cho một quốc vương nào thì các vị vua kia
sẽ nổi giận. Vậy ta phải cố gắng cứu mạng con gái ta.”
Vì thế vua cùng hoàng hậu và công chúa cải trang trốn vào rừng, và sau khi dựng
một am thất hơi xa bờ sông, phía trên thảo am của vương tử Kalinga, họ cùng
sống tại đó như người tu khổ hạnh, ăn toàn những thứ cây trái lượm hái được.
Hai vị cha mẹ muốn con gái được an ổn, nên để nàng ở lại trong am, rồi đi ra
hái trái rừng. Trong lúc hai vị đi vắng, nàng lượm đủ các loại hoa kết thành
vòng hoa. Bấy giờ trên bờ sông Hằng có một cây xoài nở hoa đẹp, tạo thành một
cái thang thiên nhiên. Nàng trèo lên đó, đùa chơi và tìm cách thả vòng hoa
xuống nước.
Một ngày kia, vương tử Kalinga vừa bước ra khỏi nước sau khi tắm thì vòng hoa
nọ vướng lên tóc chàng.
Chàng nhìn hoa và bảo :
– Một nữ nhân nào đã kết hoa này, song đó không phải là một nguời đàn bà trưởng
thành mà là một cô gái còn thơ dại. Ta phải đi kiếm nàng mới được.
Thế là chàng đâm ra si tình, đi lên phía thượng lưu sông Hằng, cho đến khi
chàng nghe nàng ca hát bằng một giọng ngọt ngào trong lúc ngồi trên cây xoài.
Chàng đến gần gốc cây, vừa thấy nàng liền bảo :
– Này giai nhân, nàng là loài gì thế ?
– Thưa công tử, thiếp là người. Nàng đáp.
– Thế thì hãy xuống đi. Chàng bảo.
– Thưa công tử, không được, vì thiếp thuộc dòng dõi Sát-đế-lỵ.
– Thưa cô nương, ta cũng vậy, xin nàng bước xuống.
– Thưa công tử, không được, thiếp không xuống đâu. Lời nói không làm nên một
Sát-đế-lỵ; nếu quả thật ngài là một vị Sát-đế-lỵ xin hãy kể cho thiếp nghe
những bí mật của nghi lễ truyền thống kia.
Sau đó hai người nói cho nhau nghe những chuyện truyền kỳ trong dòng họ. Rồi
công chúa bước xuống và hai bên kết giao với nhau.
Khi cha mẹ nàng trở về, nàng kể cho hai vị nghe chuyện vương tử của vua
Kalinga, vì sao chàng vào rừng với đầy đủ mọi chi tiết. Hai vị bằng lòng đem gả
nàng cho chàng. Trong thời gian sống chung sắc cầm hòa hợp, công chúa thụ thai
và sau mười tháng, nàng hạ sanh một nam tử đầy đủ tướng mạo tốt lành, phước đức
và đặt tên là Kalinga. Cậu trai lớn lên, học tập đủ mọi nghệ thuật taøi năng từ
thân sinh và tổ phụ chàng.
Về sau cha chàng nhìn theo cách kết hợp của các ngôi sao và biết được vương
huynh đã băng hà. Vì thế ông gọi con trai vào và bảo :
– Này con, con không nên phí cuộc đời trong rừng già buồn tẻ, vì vương huynh
ta, Ðại vương Kalinga ấy, đã qua đời. Vây con phải về Dantapura và kế vị vương
quyền của dòng họ ta.
Sau đó, người cha trao cho con các vật mang theo mình : chiếc nhẫn
có tín hiệu, tấm thảm và thanh kiếm rồi bảo :
– Này con, trong kinh thành Dantapua ở phía kia có một vị đại thần vốn là bề
tôi thân tín của cha. Con hãy đến nhà vị ấy, đi thẳng vào phòng riêng, đưa cho
ông thấy ba vật này rồi nói cho ông biết con là con của ta. Ông sẽ đưa con lên
ngai vàng.
Chàng trai giã từ cha mẹ và ông bà, và nhờ thần lực công đức của chàng, chàng
bay qua không gian, xuống nhà vị đại thần nọ, đi thẳng vào phòng riêng của vị
ấy.
– Công tử là ai ? Vị quan hỏi.
Chàng đáp :
– Ta là con trai của Tiểu vương Kalinga.
Rồi chàng rút ba tín vật ấy ra. Vị quan liền bảo tin cho cả hoàng cung, các
triều thần liền trang hoàng kinh thành và giương chiếc lọng hoàng gia lên đầu
chàng. Sau đoù vị Tế sư của triều đình tên là Kàlinga – Bhàvadvàja dạy chàng
Mười Pháp mà một Chuyển luân Thánh vương phải thành tựu và chàng học tất cả
mười phận sự ấy.
Thế rồi vào một ngày rằm tức ngày Trai giới, từ Cakkadaha xuất hiện cho vua
Bánh xe báu (Bảo luân), từ dòng họ Uposatha xuất hiện Voi báu, từ giống quí tộc
Valàha xuất hiện Ngựa báu, từ Veppulla xuất hiện Bảo Châu, kế là Nữ vương báu
cùng đám tùy tùng thị nữ và Vương tử báu dần dần xuất hiện.
Sau đó vua thống trị toàn cõi địa cầu.
Một ngày kia ngài được đám tùy tùng hộ tống suốt ba mươi sáu dặm đường, ngự
trên bảo tượng toàn trắng, cao như đỉnh núi Kelàsa. Trong cảnh uy nghi lộng
lẫy, ngài trở về thăm song thân chốn cũ. Nhưng khi muốn vượt qua vùng đất quanh
cây đại Bồ-đề, bảo tọa vinh quang của chư Phật, nơi đã trở thành trung tâm điểm
của vũ trụ, thì voi báu không thể nào qua được : vua cứ thúc voi mãi, song voi
vẫn không thể nào vượt qua.
*
Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ đầu :
1. Kha-linh Thánh đế, Chuyển luân vương,
Chân chánh, ngài cai trị cõi trần,
Một thuở đến Bồ-đề đại thọ,
Trên mình voi báu đại oai thần.
Do đó, vị Tế sư của triều đình cùng du hành với vua thầm nghĩ : “Trên không
gian chẳng có gì cản trở cả, tại sao đức vua không giục voi qua được ? Ta muốn
đến xem sao.” Từ trên không hạ xuống, vị này chiêm ngưỡng bảo tọa vinh quang
của chư Phật, và khu vực quanh cây đại Bồ-đề.
Thời ấy tương truyền rằng trong khoảng chừng một dặm vuông ấy không bao giờ có
một ngọn cỏ mọc, dù chỉ bằng một sợi lông nhỏ, mặt đất như thể cát mịn, bốn bề
là thaûo mộc, cát đằng và đại thọ chẳng khác nào chúa tể sơn lâm sừng sững như
đang chiêm ngưỡng, đồng quay mặt về hướng bảo tọa Bồ-đề. Khi vị Bà-la-môn Tế sư
quan sát chỗ này, lại suy nghĩ : “Ðây là nơi chư Phật đã đoạn tận mọi dục tham
của trần thế nên không ai có thể vượt qua được, dù cho đó chính là Sakka (Ðế
Thích) Thiên chủ đi nữa.” Và tiến về phía đức vua, vị Tế sư tâu với ngài các
đặc tính của địa phận quanh cây Bồ-đề, cùng thỉnh cầu Thánh vương ngự xuống
voi.
*
Ðể giải thích vấn đề này, bậc Ðạo Sư ngâm các vần kệ sau :
2. Vị Tế sư tâu với Thánh vương,
Là con nhà khổ hạnh hiền nhơn,
Khi ngài chuyển vận xa luân báu,
Ðảnh lễ ngài xong, hướng dẫn đường :
3. “Ðây các thi nhân vẫn tán dương,
Xin ngài ngự xuống, tấu Hùng vương,
Nơi đây chư Phật-đà vô thượng
Chánh Giác viên thành tỏa ánh quang.
4. Tương truyền rằng ở chốn phàm trần,
Ðây chính là linh địa thánh thần,
Thảo mộc, cát đằng, cùng đại thọ
Ðứng quanh trong dáng điệu tôn sùng.
5. Xuống đây, xin đảnh lễ trang nghiêm,
Vì đến miền xa tận hải biên,
Trên đại địa cầu nuôi vạn vật,
Nơi này là đất thánh thiêng liêng.
6. Ðại vương đầy đủ mọi loài voi
Thuần chủng nhờ cha mẹ tốt đôi.
Ngự giá đến đây, voi vẫn muốn
Tiến lên, song chẳng bước gần nơi.
7. Ngự trên mình bảo tượng thuần nòi,
Thánh ý tùy nghi, cứ thúc voi,
Song chẳng cách nào voi bước nữa,
Ðến đây, voi phải đứng yên thôi.”
8. Vua nghe lời nói vị tiên tri,
Vừa phán truyền cho bảo tượng đi,
Vừa thúc gậy sâu vào bảo tượng :
“Nếu vầy, ta sẽ thấy liền khi.”
9. Bị thúc, voi kêu thét tựa kèn,
Như cò lanh lảnh, hạc vang rền,
Chuyển rung, liền ngã vì hùng lực
Ðè nặng sườn, không thể đứng lên.
Vì cứ bị đức vua thúc mãi, thúc mãi, con voi không thể nào chiụ được cơn
đau đớn, nên phải chết ngay. Song đức vua không biết là voi đã chết, cứ điềm
nhiên ngự trên lưng voi. Một lát sau Tế sư Kalinga-Bhàradvàja nói :
– Muôn tâu Thánh thượng, vương tượng đã chết rồi, xin Thánh thượng ngự qua voi
khác.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm vần kệ thứ mười để giải thích việc này :
10. Quốc sư lo sợ lúc nhìn voi
Ðã chết, lòng kinh động thốt lời :
“Xin tìm voi khác, tâu Hoàng thương,
Bảo tượng ngài nay bỏ mạng rồi.”
*
Nhờ công đức và thần lực của vị Thánh vương, một con voi khác thuộc chủng loại
Uposatha xuất hiện trước đức vua và đưa lưng ra mời. Vua ngự trên lưng nó. Lúc
ấy thi thể vương tượng kia liền ngã xuống đất.
Bậc Ðại Sư ngâm vần kệ để giải thích việc này :
11. Vua hãi kinh nghe tấu việc này,
Ngự lên voi khác, bỗng liền ngay
Thi hài bảo tượng kia nhào xuống,
Lời thật tiên tri đã hiển bày.
Lập tức vua ngự xuống tứ trên không gian, và chiêm ngưỡng vùng đất quanh cây
Bồ-đề. Trước việc thần kỳ kia vừa thị hiện xong, đức vua tán thán vị tế sư
Bhàradvàja qua vần kệ :
12. Thế này, với vị Tế sư mình,
Ðại đế Kha-linh bảo : “Thực tình
Mọi việc khanh am tường thấu suốt,
Hiền khanh thấy tất cả duyên sinh.”
Song bấy giờ vị Bà-la-môn kia không muốn nhận lời tán thán trên, mà vẫn giữ
vững nguyên vị trí khiêm tốn của mình, ông tán thán công đức chư Phật và ca
tụng hết lời.
*
Bậc Ðạo Sư lại ngâm kệ để giải thích vấn đề :
13. Quốc sư từ chối sự tuyên dương
Và tấu như vầy với Thánh vương :
“Thần chỉ biết điềm cùng tướng triệu,
Còn chư Phật giác ngộ hoàn toàn.
14. Phật-đà tri kiến đạt toàn chân,
Ðiềm triệu, các Ngài chẳng chú tâm,
Chư Phật toàn tri nhờ tuệ quán,
Thần là học giả chẳng uyên thâm”.
*
Vua nghe nói về công đức của chư Phật, nên lòng đầy hoan hỷ, liền ban lệnh cho
người trần thế đem thật nhiều vòng hoa thơm đến cúng dường vùng đất quanh linh
thọ Bồ-đề suốt bảy ngày đêm liền.
*
Bậc Ðạo Sư ngâm đôi vần kệ để giải thích việc này :
15. Thánh thọ Bồ-đề, chúa cúng dường
Với bao âm nhạc thật du dương,
Các vòng hoa đẹp thơm ngào ngạt,
Ngài lại xây quanh một bức tường.
16. Thế rồi Thánh đế ngự ra về,
Mang đến hoa đầy sáu vạn xe,
Làm lễ cúng dường, vì Ðại đế
Kha-linh sùng Thánh địa Bồ-đề.
*
Sau khi đã làm lễ cúng dường trọng thể Ðại thọ Bồ-đề như trên, đức vua thăm
song thân, rồi rước hai vị về thành Dantapura sống cùng ngài. Tại đấy ngài
chuyên bố thí và làm các phận sự khác, cho đến khi mạng chung ngài được tái
sanh vào cõi Trời Ba mươi ba.
*
Sau khi chấm dứt Pháp thoại trên, bậc Ðạo Sư bảo :
– Này các Tỷ kheo, đây không phải là lần đầu tiên Ànanda làm lễ cúng dường cây
Bồ-đề, mà ngày xưa cũng vậy.
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân :
– Vào thời ấy Ànanda là vua Kalinga, và Ta chính là vị quốc sư Kalinga
Bhàradvàja kia.
*
* *
Chú thích:
1) Ràja cakkavatti (Chuyển Luân vương): Vị vua cai trị toàn cầu bằng chánh pháp
chứ không bằng đao trượng.
2) Jambudìpa (Diêm-phù-đề): xứ của cây hồng đào, tên cũ của Aán Ðộ. Anh dịch
là: The Country of Rose-apple Trees.
Nhận xét:
Bồ-đề Ðạo tràng là Thánh địa thiêng liêng đã được biết bao áng văn thơ ca
tụng từ ngàn xưa và đây là một ví dụ.
Sau khi đức Phật thành Ðạo, Ngài thọ hưởng Giải thoát lạc và Niết-bàn lạc trong
nhiều tuần tại vùng đất đã chứng kiến sự Giác Ngộ của Ngài ngay dưới gốc cây
Assatha (một loại cây sung).
Ngài đã không ngừng chiêm ngưỡng cây cổ thụ vĩ đại và thầm cám ơn cây cao bóng
cả đã che chở Ngài như một nơi an trú tốt lành suốt thời gian Ngài chiến đấu
quyết liệt để đạt Phật quả.
Chính đức Phật đã tỏ lòng quý trọng quý trọng vùng đất đặc biệt này nên các đệ
tử của Ngài cũng đều ngưỡng mộ cây cổ thụ được mệnh danh là cây Bồ-đề ở Bồ-đề
Ðạo tràng như một biểu tượng của sự Gíac Ngộ.
Sau đó các vị đệ tử xuất gia cũng như tại gia đều thỉnh cầu Ngài cho phép họ
đem một hột giống của cây Bồ-đề về trồng tại Kỳ Viên để làm một địa điểm chiêm
bái thiêng liêng, đặc biệt là những lúc đức Phật du hóa phương xa.
Từ đó Hội Bồ-đề do Tôn giả Ànanda khởi xướng ra đời đáp ứng nhu cầu ấy tâm linh
của các đệ tử thời đức Phật. Nhân dịp này, đức Phật kể một chuyện Tiền thân của
Ngài, cho thấy từ trong quá khứ, chư Phật cũng đã viên thành Chánh giác tại
Thánh địa Bồ-đề, cho nên vùng này đã trở thành một nơi thiêng liêng mà tất cả
mọi loài cỏ cây sinh vật đều tỏ thái độ tôn trọng.
Thuở ấy, Bồ-tát tiền thân đức Phật còn là một vị Tế sư Bà-la-môn cũng đã khuyên
một vị Chuyển luân vương đến chiêm bái Thánh địa này với hương hoa cúng dường
và sau đó Ngài ra lệnh thần dân cử hành đại lễ tại Thánh địa Bồ-đề.
Ngày nay, Bồ-đề Ðạo tràng là nơi quy tụ chùa đền của Phật tử khắp thế giới đến
đây để tỏ lòng tôn sùng Thánh địa đã chứng kiến sự Giác Ngộ vô thượng của đức
Phật đem lại ánh sáng trí tuệ và từ bi cho toàn thể muôn loài.
Ngoài ra, các học giả Tây phương còn nhận thấy ảnh hưởng của chuyện Tiền thân
này trong nhiều nền văn học nhân gian ở Âu Á: những chi tiết về các tín vật của
vị vương tử và cách công chúa thả vòng hoa xuống dòng suối đưa đến mối kỳ duyên
giữa nàng và vị vương tử ấy là những sự kiện thường gặp trong các cổ tích nhân
gian của nhiều nước dưới nhiều hình thức khác nhau. Ðiều này chứng tỏ các
chuyện Tiền thân đức Phật đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều đất nước vượt xa
ngoài biên giới Ấn Ðộ từ ngàn xưa.
Nhân dịp lễ đức Phật Thành Ðạo cũng là dịp đầu xuân Nhâm Ngọ, tôi xin gởi đến
các đạo hữu gần xa câu chuyện Tiền Thân đầy hương đạo mầu nhiệm này để cùng
nhau tưởng nhớ một trong bốn Thánh địa thiêng liêng mà đức Phật đã từng in dấu
chân trong thời Ngài còn trụ thế: Vườn Lumbini, nơi đức Phật đản sanh; Bồ-đề
Ðạo tràng, nơi Ngài chứng đắc Vô thượng Giác Ngộ; Vường Nai, nơi Ngài Sơ chuyển
Pháp luân, và rừng Sàla ở Kusinàrà, nơi Ngài diệt độ trong Niết-bàn tối hậu.