Với việc phát triển công nghệ sắt,
đồng đã đưa đến việc phát triển những dụng cụ sản xuất nông nghiệp bằng kim
loại tiến bộ hơn, và với việc phát triển nông nghiệp đã đưa nhiều bộ tộc đi đến
đời sống định cư thành những cộng đồng hay làng mạc (gāma) thay vì đời sống du
mục như trước đó. Việc phát triển nông nghiệp và những sản phẩm nông nghiệp
cũng đã hình thành nên việc trao đổi sản phẩm bằng tiền tệ, và từ đó hình thành
nên các thành phố (nagara), những khu mua bán (nigara) với việc xuất hiện các
thương gia và chủ ngân hàng giàu có. Văn học Pāli thường xuyên đề cập đến chủ
những đoàn thương buôn, thương nhân và chủ ngân hàng. Xã hội được đề cập ở
trong văn học Pāli khác với trong Veda và những Upanishad tiền Phật giáo. Hình
ảnh xã hội như được phản chiếu trong một số Upanishad tiền Phật giáo là xã hội
nông thôn(1), trong khi Phật giáo thời kỳ đầu (và Kỳ-na giáo) thì gắn
liền với môi trường thành thị.
Đã có quan điểm cho rằng sự hành
hoạt của Phật giáo vào thời Đức Phật chính yếu tập trung ở những khu vực thành
thị mới. Những khảo sát từ văn bản thuộc văn học Pāli đã chỉ ra rằng con số về
địa danh được nhắc đến trong kinh-luận là 1.009 lần, mà trong số này, có đến
842 (83.43%) lần liên quan đến 5 thành phố chính là Sāvatthī (Xá-vệ), Rājagaha
(Ma-kiệt-đà), Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), Vaishali (Vệ-xá-ly) và Kosambi
(Kausambi/ Kiều-thương-di) - những thành phố được cho là phồn thịnh vào thời Đức
Phật. Phần còn lại (chiếm 16.57%) là những địa danh thuộc những thành phố khác,
các thị tứ, làng mạc và những vùng ngoại vi thành phố(2). Và có người
đã dựa vào những khảo sát dạng này để khẳng định rằng Phật giáo thời kỳ đầu
phần lớn tập trung ở đô thị và ảnh hưởng mạnh vào tầng lớp lãnh đạo, thị dân và
những thương nhân hơn là ảnh hưởng vào tầng lớp nông dân; và cũng có người phê
bình rằng một trong những điểm yếu lớn nhất của Phật giáo ở Ấn Độ là nó chưa
bao giờ trở thành một trào lưu tôn giáo phổ biến sâu rộng trong cộng đồng dân
cư nông thôn(3), nơi được xác nhận là hình thành nên những giá trị chính
của xã hội Ấn Độ.
Tuy nhiên, dù tên địa danh của năm
thành phố được nhắc đến nhiều, số lượng các ngôi làng vẫn vượt qua thành phố và
thị tứ, dù tên các ngôi làng ít được đề cập một cách cụ thể. Và những khảo sát
về văn bản cũng như những khai quật khảo cổ cho thấy rằng các tịnh xá (vihāra)
thường tọa lạc tại những khu vực nông thôn, hơn là thành thị. Có điều, vị trí
những ngôi làng này thường không quá xa thị thành. Địa điểm tọa lạc này của các
tịnh xá được xem là thích hợp với các Tỳ-kheo, vì những trú xứ như vậy sẽ không
bị đời sống thành thị chi phối nhưng lại thuận tiện trong việc khất thực vì
không quá xa các khu dân cư cả thị dân và dân làng. Bên cạnh văn học Pāli cũng
cho thấy rằng, đời sống của các Tỳ-kheo hiện diện ở khắp nơi, từ làng mạc đến
thị thành và cả ở trong rừng vắng. Và mối liên hệ giữa hàng Tăng sĩ và người
dân sống ở trong làng cũng tạo nên duyên khởi cho một số luật định dành cho
hàng Tỳ-kheo.
Nhưng có một điều dễ nhận thấy
rằng, trong các Nikāya, những cư sĩ tiêu biểu được nhắc đến nhiều thường tập
trung vào hai thành phần chính đó là giới vua chúa (bao gồm cả một số thành
viên của hoàng gia) và thương nhân. Và hai thành phần này luôn là hai giới hỗ
trợ cho Phật giáo đắc lực nhất, vì Phật giáo được cho là đã đáp ứng được những
mong đợi của hai thành phần này(4). Nhưng không riêng gì Phật giáo,
hai thành phần này cũng là những người hỗ trợ nhiệt thành của một số bộ phái
tôn giáo khác, chẳng hạn như Kỳ-na giáo.
Chúng ta biết rằng hai ngôi tịnh xá
đầu tiên của Tăng đoàn Phật giáo là do hai người, một thuộc vua chúa và một
thuộc thương nhân, hiến cúng. Đức Phật sau khi thành đạo và hóa độ những vị đệ
tử đầu tiên, đã quay trở lại thành Vương-xá hóa độ vua Bình Sa Vương, người
trước đó là bạn hữu của Ngài. Vị vua này sau đó trở thành vị đệ tử tại gia
nhiệt tâm và hết lòng ủng hộ Đức Phật và Tăng đoàn. Ngôi tịnh xá Trúc Lâm, được
xây dựng không lâu sau khi Đức Phật thành đạo, chính do vị vua này hiến cúng.
Kinh tạng Nikāya cũng lặp lại tên nhiều vị vua như là những người thân cận và
ủng hộ Tăng đoàn nhiệt thành. Về sau, các kỳ kiết tập kinh điển cũng đặt dưới
sự bảo trợ của các vua chúa, và thậm chí đôi khi do sự thúc đẩy của vua chúa,
chẳng hạn như kỳ kiết tập kinh điển dưới triều Vua Ashoka. Và không chỉ dừng
lại đó, có những vị vua còn có vai trò và công lao lớn trong việc truyền bá
Phật giáo ra ngoài Ấn Độ.
Vào thế kỷ VI (tr.TL), vị trí và
ảnh hưởng của giới thương nhân trong xã hội Ấn Độ được coi là rất sâu sắc. Sự
giàu có của giới này được cho là đã khuynh loát cả hàng vua chúa và đã khiến
cho giai cấp Sát-đế-lợi đôi khi phải tìm cách hạn chế họ. Và sự bảo hộ của giới
thương nhân cho một số tôn giáo và bộ phái cũng không hề nhỏ so với các vua chúa.
Một số câu chuyện liên quan đến giới cư sĩ thương nhân được đề cập trong kinh
tạng, cho thấy sự giàu có, vị thế, và ảnh hưởng của họ. Một vài trong số những
trường hợp này là câu chuyện về trưởng giả Cấp Cô Độc và Bà-la-môn Dona.
Trưởng giả Cấp Cô Độc là một thương
gia, một chủ ngân hàng. Câu chuyện kể về ông đã bỏ vàng lát đất để mua lấy khu
vườn của Thái tử Kỳ Đà để xây tịnh xá Kỳ Hoàn cúng dường cho Đức Phật cho thấy
rằng sự giàu có và ảnh hưởng của ông ở trong đời sống xã hội là thật sự lớn,
khiến ông có thể chi phối và thay đổi được một vị thái tử hoàng gia. Trong khi
đó, như được thấy ở trong kinh Đại bát Niết-bàn (Trường bộ), một trong
những lý do để Đức Phật nhập diệt ở Kusinaga là vì nơi đây có Bà-la-môn Dona,
người sẽ nhận trách nhiệm phân chia xá-lợi của Đức Phật. Rõ ràng vị trí của vị
thương nhân này là rất quan trọng. Quan trọng không phải ở nhiệm vụ phân chia
xá-lợi, mà có thể sắp xếp để xá-lợi của Đức Phật không trở thành đầu mối của sự
tranh chấp, khi có nhiều vua chúa đang manh nha tư tưởng tranh đoạt.
Như đã nói, việc trở nên giàu có
của tầng lớp thương nhân cũng khiến họ muốn tái xác định lại vị trí của họ
trong sự phân tầng xã hội theo Bà-la-môn giáo. Theo trật tự của hệ thống đẳng
cấp, tầng lớp thương nhân (Vaishya) được xếp thứ ba, sau Bà-la-môn và
Sát-đế-lợi. Tuy nhiên về tài sản thì họ có thể vượt qua hai đẳng cấp trước. Và
chính sự giàu có về tài sản đã tạo nên trong họ nỗi khát vọng nắm giữ một địa
vị xã hội cao hơn. Ở một góc độ, sự ra đời của Phật giáo và Kỳ-na giáo đã đáp
ứng được nỗi khát vọng của họ, khi họ đã không còn hài lòng với giáo thuyết của
Bà-la-môn giáo(5), và do đó tầng lớp thương nhân này nhiệt thành ủng hộ
những tôn giáo không chấp nhận hệ thống đẳng cấp và ủng hộ thương mại(6). Như chúng ta
đã biết, trong số 60 người gia nhập Tăng đoàn đầu tiên thì hết 55 người xuất
thân từ tầng lớp thương nhân (Vaishya). Về hàng Phật tử tại gia, nhiều trong số
những người quy y theo Ngài ở thành Ma-kiệt-đà và Vương-xá, cũng như một số
thành phố khác, cũng thuộc tầng lớp này(7).
Việc xây dựng chùa tháp, đặc biệt
là những chùa tháp lớn, thường cũng do hai giới vua chúa và thương nhân thực
hiện. Các chùa tháp vào thời Đức Phật và sau đó đều do những đại thí chủ của
hai thành phần xã hội này phát tâm hiến cúng. Vua Ashoka được cho là đã xây đến
84.000 ngôi tháp. Con số này tuy khó xác định, nhưng thông qua việc khảo cổ đã
cho thấy rằng những chùa tháp do vị vua này xây dựng là rất nhiều. Về sau,
những quần thể chùa viện lớn cũng do nhiều vị vua quan và thương nhân thực
hiện. Những quần thể chùa đá như Ajanta và
Ellora, và quần thể chùa tháp ở Sanchi, mà những chữ viết khắc trên các bảng đá
ở đây đã ghi lại, phần lớn do các vua chúa (hoặc thành viên của hoàng gia) cùng
với các thương nhân hiến cúng. Nhiều những chữ viết trên nhưng di vật có từ
thời Kushan chứng nhận rằng nhiều thương nhân, thợ thủ công và thị dân đã dâng
cúng tài vật dồi dào cho các chùa viện Phật giáo.
Tuy nhiên, nói như vậy không có
nghĩa là sự “góp của” xây dựng chùa tháp trong quá khứ chỉ do hai giới này thực
hiện. Nhưng rõ ràng, sự thịnh vượng về kinh tế của họ đã ghi được tên tuổi của
họ lên sách sử và lên những bảng đá. Điều này không chỉ có ở trong quá khứ mà
cũng xảy ra ngay ở hiện tại. Niềm tin vào việc tạo phước qua bố thí (dāna) hẳn
nhiên là ảnh hưởng đến nhiều giới tín đồ tại gia, nhưng đặc trưng của công việc
và việc thịnh vượng về kinh tế khiến giới thương nhân dễ dàng hơn người nông
dân trong việc cúng dường. Thêm nữa, việc xây dựng chùa tháp đối với các thương
nhân không chỉ để tạo phước mà song song đó, các cơ sở này cũng là những nơi
chốn cầu nguyện và nơi trú ngụ của họ trong quá trình di chuyển cho việc giao
thương. Nhưng hẳn nhiên không phải các tịnh xá và bảo tháp do các thương nhân
xây dựng đều nằm dọc ở những trục đường nơi mà họ có thể trú ngụ hay dừng chân
trong những chuyến buôn bán dài ngày của mình.
Nhưng sự phụ thuộc vào giới thương
nhân để phát triển và duy trì tôn giáo cũng đã tạo nên những hệ luỵ. Ở đây
không phải là sự chi phối của tầng lớp này trong việc làm biến đổi giáo thuyết
hay biến những cơ sở tôn giáo thành tài sản riêng của họ, nhưng việc đặt sự
sinh hoạt của mình dưới sự bảo trợ của tầng lớp này (hay bất kỳ một nhóm riêng
biệt nào) thì khi tầng lớp này bị suy thoái sẽ khiến cho tôn giáo phụ thuộc vào
nó chao đảo, nếu nó không có những thay đổi để thích ứng kịp thời. Trong một
bài viết về sự phát triển Phật giáo ở Andhra (một tiểu bang của Ấn Độ), nơi
Phật giáo từng rất hưng thịnh và là cứ điểm để Phật giáo truyền đến Sri Lanka
và một số nước châu Á khác, Sree Padma cho rằng, sự phát triển Phật giáo thịnh
vượng ở nơi này là nhờ vào sự phát triển đô thị và thương mại, nhưng sau sáu
thế kỷ phát triển, Phật giáo đã suy yếu nghiêm trọng khi nền kinh tế ở nơi này
suy thoái đi cùng với sự ngưng hỗ trợ của tầng lớp thương nhân. Về sau khi kinh
tế ở nơi này phục hồi, Phật giáo không còn đủ sức mạnh để cạnh tranh và không
còn là tôn giáo hấp dẫn giới thương nhân như một số giáo phái khác, chẳng hạn
như Śaivism(8).
Quan điểm này có thể chấp nhận được khi vấn đề này cũng
có thể nhìn thấy ở những thành phố khác ở Ấn, nơi Phật giáo đã từng hưng thịnh,
chẳng hạn như Sāvatthī, Vaishali và Kosambi… Ở Vaishali, mặc dù đây là địa bàn
hành hoạt “truyền thống” của Kỳ-na giáo, Phật giáo cũng từng được tầng lớp quý
tộc và các thương nhân đón nhận nhiệt tình, nhưng khi tầng lớp quý tộc thất thủ
và tầng lớp thương nhân suy thoái ở thành phố này, đã kéo theo sự suy yếu của
Phật giáo, khi nó không bám rễ được vào trong đời sống nông dân. Điều này cũng
tương tự như ở Kosambi. Nhưng từ sự chấm dứt thời kỳ thành thị hóa và kéo theo
sự suy yếu của Phật giáo vì mất đi sự ủng hộ của hai tầng lớp Sát-đế-lợi và
Vệ-xá, Phật giáo Ấn Độ về sau dường như đã có khuynh hướng chuyển sang “nông
thôn hóa”. Và từ sau thời Vua Ashoka, những thí chủ của Tăng đoàn không chỉ là
những vua quan và các thương nhân mà cũng bao gồm những thí chủ ở các ngôi làng
và ngoài thành thị. Tuy nhiên, Phật giáo ở Ấn, chưa bao giờ phổ biến và hành
hoạt sâu rộng trong các cộng đồng nông thôn.
Khác với việc truyền bá tôn giáo ra
nước ngoài gắn liền với bạo lực của một số tôn giáo, Phật giáo nói chung được
truyền bá một cách hòa bình; và cũng khác với một số tôn giáo thường theo chân
những người xâm lược để truyền bá tôn giáo của mình đến xứ sở khác, con đường
truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ ra nước ngoài hầu như đều do các Tăng sĩ thực hiện
và một hình thức khác (có thể chỉ là ngẫu nhiên) là qua những thương nhân Phật
tử, hoặc có niềm tin vào Phật giáo. Và việc truyền bá Phật giáo ra ngoài Ấn Độ
bằng con đường này, dù ít nhiều thiên về tín ngưỡng, đã có sự ảnh hưởng lớn. Nó
đã giới thiệu hình ảnh Phật giáo vào trong đời sống trước hết ở những nơi buôn
bán, và từ đây lan truyền đến những nơi khác. Kể từ khi tín ngưỡng phụng thờ
tượng Phật và Bồ-tát thịnh hành, đặc biệt là niềm tin vào Bồ-tát Quan Thế Âm,
các thương nhân đã mang những tôn tượng này theo những chuyến hành trình giao
thương dài ngày của họ với niềm tin có được sự may mắn và an ổn. Những chuyến
đi xa buôn bán của các thương nhân đôi khi cũng có những vị tu sĩ Phật giáo đi
cùng trong việc thực hiện mục đích truyền đạo, nhưng cũng có những người đi với
mục đích tụng kinh cầu nguyện và làm nơi nương tựa tâm linh cho đoàn thương
nhân, và theo đó cũng giới thiệu hình ảnh tu sĩ Phật giáo đến những nơi khác.
Nhưng việc phát triển Phật giáo
theo cách này của những thương nhân, đặc biệt dưới thời Kushan, cũng có mặt
trái của nó. Như những bích họa ở các động đá dọc theo Con đường Tơ lụa (và một
số nơi khác như ở Ajanta) thể hiện, việc ủng hộ Phật giáo trong việc xây dựng
chùa tháp và khắc chạm bích họa cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa vật chất và
thế tục vào trong đời sống tu viện. Một số bích họa được phát hiện tại những
chùa đá dọc theo Con đường Tơ lụa xưa, miêu tả về những sinh hoạt của đời sống
thế tục chẳng hạn như cảnh soi gương trang điểm, nhảy múa và uống rượu, và nếp
sinh hoạt được thể hiện trong những bức bích họa ít nhiều gắn với đời sống thị
thành. Chúng ta không biết những ngôi chùa và bích họa được các thương nhân và
thợ thủ công thiết lập khi nơi đây chưa có Tăng nhân cư trú, hay là các Tăng nhân
cho tạc những bức bích họa này theo ý của các thương nhân. Thêm nữa, khi triều
đại nhà Đường sụp đổ ở Trung Quốc và sự xâm chiếm của người Hồi vào thế kỷ thứ
VIII (TL), đã đưa đến việc Con đường Tơ lụa không còn được sử dụng và việc vắng
mặt các thương nhân, Phật giáo mà nó chủ yếu phát triển dọc theo con đường gắn
liền với việc buôn bán và các thương nhân này cũng theo đó nhanh chóng suy tàn.
Theo cách nhìn của một số tôn giáo,
chẳng hạn như Phật giáo và Kỳ-na, đối với đời sống tu sĩ, sự giàu có về tài sản
vật chất có thể gây nên những nguy hại cho đời sống tâm linh. Và đây là lý do
tại sao giới tu sĩ không được phép cất giữ tiền bạc và giảm thiểu đến mức tối
đa việc sử dụng những nguồn vật chất. Nhưng trong khi việc sung túc vật chất có
thể không tốt cho giới tu sĩ, việc phát triển một phong trào tôn giáo (cũng như
bất kỳ phong trào nào) phải nhờ vào yếu tố kinh tế, để xây dựng cơ sở, đạo tạo
và hỗ trợ đời sống tu sĩ cũng như việc phái những phái đoàn truyền đạo đến
những nơi khác… Chính điều này, có người cho rằng Phật giáo thành công trong
việc truyền bá vào những thế kỷ đầu ở Ấn Độ là nhờ vào sự ủng hộ mạnh mẽ của
tầng lớp quý tộc và giới thương nhân, trong khi năm bộ phái tôn giáo khác
(không thuộc dòng Bà-la-môn) đã không phát triển được bởi vì thiếu đi sự ủng hộ
của hai tầng lớp này(9).
Sự ủng hộ của giới thương nhân
trong việc phát triển Phật giáo tại Ấn Độ cũng như tạo nên những điều kiện để
Phật giáo truyền bá đến những nơi khác là thật sự lớn. Và không riêng gì ở Ấn
Độ, việc ủng hộ tài vật trong việc duy trì Tăng đoàn và xiển dương Phật pháp
của giới thương nhân thể hiện rất rõ trong lịch sử phát triển Phật giáo ở những
xứ sở khác nhau, và càng dễ nhận thấy hơn trong xã hội hiện nay. Với người cư
sĩ tại gia, sự phát triển tài sản vật chất song song với việc phát triển đạo
đức và tâm linh (hay hỗ trợ tài vật giúp phát triển đời sống đạo đức và tâm
linh trong đời sống xã hội) là điều được khuyến khích trong kinh điển. Do đó
đối với người thương nhân nói riêng và những người cúng dường tài vật nói chung
khi thực hành bố thí cần xem xét việc làm của mình có giúp phát triển đời sống
đạo đức và tâm linh cho bản thân và cho người nhận vật thí (hay cúng dường) hay
không. Và đối với bản thân Tăng-già Phật giáo, có những điều xảy ra trong quá
khứ vẫn còn là những bài học bổ ích trong đời sống hiện tại. Việc phát triển
một tôn giáo nếu chỉ dựa vào (và quan tâm đến) tầng lớp lãnh đạo và thương
nhân, trong khi bỏ qua những thành phần dân chúng khác (luôn chiếm đại đa số),
rõ ràng không phải là một sự phát triển cân bằng và bền vững.
Chú thích
(1) Bà-la-môn giáo trong thời kỳ đầu của đô thị
hóa, bị cho là không có thiện cảm với đời sống thành thị. Xem G. Bailey & I. Mabbett, The Sociology
of Early Buddhism, Cambridge:
Cambridge University Press, 2003, tr.19.
(2) Balkrishna Govind Gokhale, “Early Buddhism and
the Urban Revolution”, The Journal of the International Association of
Buddhist Studies, A. K. Narain Ed, Vol. 5, No.
2, 1982, tr.10
(3) Vishwanath Prasad Varma, Early Buddhism and
its origins, New Delhi:
Munshiram Manoharlal 2003 (Third edition), tr.343.
(4) Xem thêm G. Bailey & I. Mabbett, The
Sociology of Early Buddhism, Cambridge:
Cambridge University Press, 2003, tr.14.
(5) Xem thêm A. L. Basham, “The background to the
rise of Buddhism”, in A. K. Narain (ed.), Studies in History, Delhi: B.R. Publishing, 1980. K. T. Sarao, Urban
Centres and Urbanisation as Reflected in the Pali Vinaya and Sutta Pitakas,
Delhi:
Vidyanidhi, 1990, tr.175. Thực ra thông điệp của Đức Phật là phổ quát, mà nói
theo ngôn ngữ kinh Pháp hoa là như một trận mưa lớn mà mọi cây cỏ đều có
thể thấm nhuần, chứ không dành riêng cho đẳng cấp nào. Tuy nhiên, hai đẳng cấp
Sát-đế-lợi và Vệ-xá với thuận tiện địa bàn cư trú và khả năng tiếp nhận giáo
pháp đã dễ dàng đón nhận giáo pháp của Ngài hơn.
(6) Xem thêm R. S. Sharma, Material Culture and
Social Formations in Ancient India, Delhi:
Macmillan India,
1983, tr.123-126.
(7) Xem thêm N.
Datta, The Spread of Buddhism.
(8) Xem thêm Sree Padma, “Material Culture and the
Emergence of Urban Buddhism in Andhra”, Buddhism in the Krishna River Valley
of Andhra, State Univ New York,
2008, tr.11-31.
(9) Vishwanath Prasad Varma, sđd, tr.337.
Thích Nguyên Hiệp